vanban.org

Bản án 66/2024/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Thuận Tuyên án 31/07/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 31/07/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tu ên bố: Bị cáo Ngu n Văn T phạm tội “Cố ý g thương tích”.

Xử phạt bị cáo Ngu n Văn T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngà chấp hành hình phạt. Về trách nhiệm d n sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Các Điều 584 585 586 590 357 và 468 Bộ luật D n sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tu ên bố: Bị cáo Ngu n Văn T phạm tội “Cố ý g thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự và ử phạt; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2024/HS-PT
Ngày: 31-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Hùng.

Các Thẩm phán: Ông Trần Phước Hiệu;

Ông Phạm Thái Bình;

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngu n Bùi Tu t H n Thư ký Tòa án nh n d n tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Toàn - Kiểm sát viên.

Ngà 31 tháng 7 năm 2024 tại trụ s Toà án nh n d n tỉnh Bình Thuận t ử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 57/2024/TLPT-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Ngu n Văn T do có kháng cáo của bị cáo Ngu n Văn T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2024/HS-ST ngày 14 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nh n d n hu ện Bắc Bình.

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn T (Tên gọi khác: B ) sinh năm 1983 tại tỉnh Bình Thuận;

Nơi cư trú: Thôn T ã H hu ện B tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 04/12; D n tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Ngu n Văn Đ (đã ch t) và bà Hà Thị T1; có vợ và 03 người con;

Tiền sự; tiền án: Không; Bị cáo tại ngoại có mặt.

- Bị hại: Ngu n Văn P sinh năm 1988; Nơi cư trú: Thôn T ã H hu ện B tỉnh Bình Thuận. có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngà 22/6/2023 Ngu n Văn T (sinh năm: 1983; cư trú: thôn T ã H hu ện B tỉnh Bình Thuận) dự đám giỗ về đi ngang qua quán tạp hóa của bà Ngu n Thị Ngọc H (sinh năm: 1966 cùng thôn) thì nhìn thấ Ngu n Văn P (sinh năm: 1988; trú cùng thôn) đang ngồi đánh bài tại nhà bà H. T nhớ lại chu ện trước đ P có thái độ nhìn đểu T và trong người có hơi men không kiềm ch được (theo lời trình bà của T) nên T nả sinh ý định đánh P cho bỏ gh t. T đi về nhà cầm c típ sắt ruột rỗng dài 42 5 cm đường kính 2 5 cm (bên trong ống típ có găm 01 con dao có cán màu đen dài 10 cm đường kính 2 5 cm lưỡi dao làm bằng ino màu trắng có mũi nhọn dài khoảng 30 cm) rồi qua lại chỗ P đang ngồi để đánh. T đi đ n gần phía bên trái P cách vị trí P đang ngồi khoảng 70 cm ta phải cầm c típ sắt đánh 01 cái theo chiều từ trên uống dưới trúng vào đỉnh đầu của P. Bất ngờ bị đánh P đứng dậ chụp c típ sắt mà T đang cầm cả hai giằng co một lúc thì c dao trong ống típ sắt tuột ra T cầm lấ c dao đ m thẳng vào người P thì P dùng ta trái hất c dao ra nên lưỡi dao cứa vào các ngón ta của bàn ta trái rồi P qua người bỏ chạ T cầm dao rượt theo khoảng 20 m t thì không rượt nữa. P đi về nhà đ n Bệnh viện Đ1 điều trị thương tích. Đ n ngà 18/7/2023 Ngu n Văn P làm đơn êu cầu kh i tố vụ án hình sự đối với hành vi của Ngu n Văn T đồng thời làm đơn in trưng cầu giám định thương tích.

Tại bản k t luận giám định pháp về thương tích số 560/KLTTCT-TTPYBT ngà 06 tháng 9 năm 2023 của Trung t m giám định pháp tỉnh B k t luận tỷ lệ thương tích của Ngu n Văn P là 3%.

Vật chứng: Cơ quan điều tra tạm giữ 01 ống kim loại màu đen dài 42 5 cm đường kính 2 5 cm đ là hung khí Ngu n Văn T dùng để đánh đ m Ngu n Văn P g thương tích. Cơ quan điều tra đã chu ển vào kho của Chi cục Thi hành án d n sự hu ện Bắc Bình để chờ ử lý theo qu định.

Về phần d n sự: Ngu n Văn P êu cầu bồi thường tổng số tiền 32.850.000 đồng (Bao gồm các khoản tiền chi phí điều trị thương tích tiền tổn thất tinh thần và các chi phí khác). Đ n na T vẫn chưa bồi thường.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2024/HS-ST ngày 14 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình đã quyết định:

Tu ên bố: Bị cáo Ngu n Văn T phạm tội “Cố ý g thương tích”.

Căn cứ: Điểm a i khoản 1 Điều 134; Điểm i s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);

Xử phạt: Bị cáo Ngu n Văn T 09 (chín) tháng tù thời hạn tù tính từ ngà chấp hành án.

Về trách nhiệm d n sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; các Điều 584 585 586 590 357 và 468 Bộ luật D n sự năm 2015;

Buộc bị cáo Ngu n Văn T bồi thường cho bị hại Ngu n Văn P số tiền 14.905.000đồng.

Về tang vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủ : 01 ống kim loại màu đen dài 42 5cm đường kính 2 5cm. (Theo Biên bản giao nhận đồ vật tài liệu vật chứng ngà 22/12/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an hu ện B và Chi cục Thi hành án D n sự hu ện bắc B).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quy t định lãi suất do chậm thi hành án án phí theo qu định.

Ngà 25 tháng 3 năm 2024 bị cáo Nguy n Văn T có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án phúc thẩm em t cho bị cáo T được giảm nhẹ hình phạt và xem xét lại mức bồi thường thiệt hại.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo Ngu n Văn T giữ ngu ên êu cầu kháng cáo in được giảm nhẹ hình phạt và mức bồi thường thiệt hại.

- Bị hại ông Ngu n Văn P không đồng ý êu cầu kháng cáo của bị cáo và đề nghị Hội đồng t ử giải qu t theo qu định của pháp luật.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Bình Thuận phát biểu quan điểm về việc giải quy t vụ án: Đề nghị Hội đồng t ử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngu n Văn T về việc in giảm nhẹ hình phạt và giảm mức bồi thường thiệt hại; giữ ngu ên Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2024/HS-ST ngà 14 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nh n d n hu ện Bắc Bình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung vụ án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng t ử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án có đủ cơ s ác định: Khoảng 17 giờ ngà 22/6/2023 tại thôn T ã H hu ện B tỉnh Bình Thuận, Ngu n Văn T cầm c típ sắt ruột rỗng dài 42 5 cm đường kính 2 5 cm (bên trong ống típ có găm 01 con dao có cán màu đen dài 10 cm đường kính 2 5 cm lưỡi dao bằng được làm bằng ino màu trắng có mũi nhọn dài khoảng 30 cm) là hung khí ngu hiểm đánh 01 cái theo chiều từ trên uống dưới trúng vào vùng đỉnh đầu trái và đ m trúng lòng bàn ta trái của Ngu n Văn P. Theo k t luận giám định tỷ lệ thương tích của Ngu n Văn P là 3%. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình xét xử bị cáo Ngu n Văn T phạm tội “Cố ý g thương tích” theo qu định tại điểm a (dùng hung khí nguy hiểm), i (có tính chất côn đồ) khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là có căn cứ.

Xét kháng cáo của bị cáo Nguy n Văn T in được giảm nhẹ hình phạt: Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Nguy n Văn T thành khẩn khai báo; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Nh n th n bị cáo chưa có tiền án tiền sự nên Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm i s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và ử phạt bị cáo Nguy n Văn T 09 tháng tù là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được tình ti t giảm nhẹ mới. X t tính chất mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội không có cơ s chấp nhận kháng cáo của bị cáo về việc in giảm nhẹ hình phạt.

Xét kháng cáo của bị cáo Nguy n Văn T in được giảm mức bồi thường thiệt hại: Bị hại Ngu n Văn P êu cầu bị cáo Ngu n Văn T bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị m phạm với số tiền 32.850.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định và chấp nhận một phần các khoản êu cầu gồm: Chi phí cho việc điều trị 7.155.000 đồng; Thu nhập thực t bị mất 2.100.000 đồng; Tiền công nuôi bệnh 1.750.000 đồng; Chi phí thuê e ch đi cấp cứu và tái khám 1.200.000 đồng; T2 bù đắp tổn thất về tinh thần 2.700.000 đồng. Tổng cộng số tiền được chấp nhận 14.905.000 đồng là có căn cứ. Bị cáo Ngu n Văn T kháng cáo cho rằng số tiền Tòa án sơ thẩm buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại 14.905.000 đồng là quá cao đề nghị em t lại nhưng bị cáo không cung cấp được chứng cứ chứng minh nên không có cơ s chấp nhận. Từ nhận định trên, xét kháng cáo của bị cáo Nguy n Văn T là không có cơ s chấp nhận. Hội đồng t ử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của Viện kiểm sát nh n d n tỉnh Bình Thuận.

Các quy t định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngà h t thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Nguy n Văn T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngu n Văn T giữ ngu ên Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2024/HS-ST ngà 14 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nh n dân hu ện Bắc Bình.

1. Áp dụng điểm a i khoản 1 Điều 134; Điểm i s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);

Tu ên bố: Bị cáo Ngu n Văn T phạm tội “Cố ý g thương tích”.

Xử phạt bị cáo Ngu n Văn T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngà chấp hành hình phạt.

2. Về trách nhiệm d n sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Các Điều 584 585 586 590 357 và 468 Bộ luật D n sự năm 2015.

Buộc bị cáo Ngu n Văn T phải bồi thường cho bị hại Ngu n Văn P số tiền 14.905.000đồng (Mười bốn triệu chín trăm lẻ năm nghìn đồng).

Kể từ ngà có đơn êu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đ n khi thi hành ong bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qu định tại Điều 357 Điều 468 của Bộ luật D n sự năm 2015.

3. Về án phí phúc thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo Ngu n Văn T phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quy t định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngà h t thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 31/7/2024).

Cỡ chữ