vanban.org

Bản án 66/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Chu Thị Thanh V, bà Chu Thị Thanh V được ly hôn với ông Trần Thanh T.

Về con chung: Giao cháu Trần Chu Bảo T, sinh ngày 23/10/2012 và cháu Trần Chu Bảo N, sinh ngày 08/01/2018 cho bà Chu Thị Thanh V được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời ông Trần Thanh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà V không yêu cầu. Ông T được quyền đi lại thăm nom con chung không … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Chu Thị Thanh V, bà Chu Thị Thanh V được ly hôn với ông Trần Thanh T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 18/3/2024
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA- TỈNH ĐỒNG NAI.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Trần Công Danh - Cán bộ hưu trí.

2/ Bà Nguyễn Thị Ngọc Hoa - Cán bộ hưu trí.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Phương Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đông – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 2469/2023/TLST–HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 01 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 59/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26/02/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Chu Thị Thanh V, sinh năm 1986.

Địa chỉ: khu phố 4, phường A, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Ông Trần Thanh T, sinh năm 1986.

Địa chỉ: khu phố 1, phường T, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

(Bà V có đơn xét xử vắng mặt; ông T vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Chu Thị Thanh V trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông T tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2011 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc, sau đó thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, suy nghĩ của hai vợ chồng trái ngược nhau. Vì không muốn gia đình đổ vỡ nhiều lần hai vợ chồng đã tìm cách giải quyết nhưng không có kết quả. Hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ năm 2019 cho đến nay không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Thanh T.

- Về con chung: Bà V xác định có có 02 con chung là cháu Trần Chu Bảo T, sinh ngày 23/10/2012 và cháu Trần Chu Bảo N, sinh ngày 08/01/2018. Ly hôn, bà V đề nghị được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cả hai cháu Bảo T và Bảo N và tạm thời không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra bà không yêu cầu và cung cấp tài liệu chứng cứ gì khác.

- Bị đơn ông Trần Thanh T được Toà án triệu tập nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, do đó không có ý kiến hay chứng cứ gì giao nộp cho Toà án.

YÙ kieán cuûa Vieän kieåm saùt nhaân daân thành phố Biên Hòa:

+ Về việc kiểm sát chấp hành pháp luật tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai, có yêu cầu giải quyết vắng mặt nên nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt tại phiên toà, không có lời khai nên bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Chu Thị Thanh V, cho bà Chu Thị Thanh V được ly hôn với ông Trần Thanh T; Về con chung: Giao cháu Trần Chu Bảo T, sinh ngày 23/10/2012 và cháu Trần Chu Bảo N, sinh ngày 08/01/2018 cho bà V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật. Tạm thời ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét, giải quyết; Về án phí: Bà Chu Thị Thanh V phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật: Bà Chu Thị Thanh V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Thanh T. Căn cứ vào Điều 28 Bộ luật dân sự xác định quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Về tư cách đương sự: Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định bà Chu Thị Thanh V là nguyên đơn, ông Trần Thanh T là bị đơn .

Về thẩm quyền giải quyết: Theo Biên bản xác minh của Công an phường Trảng Dài, thành phố Biên Hòa cung cấp: Ông Trần Thanh T cư trú tại số 53B/1, khu phố 1, phường Trảng Dài, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xác định yêu cầu khởi kiện của bà Chu Thị Thanh V thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Về thủ tục tố tụng: Toà án đã tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng cho ông Trần Thanh T nhưng ông T không đến Toà làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, phiên toà xét xử; Bà Chu Thị Thanh V có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ và Điều 207, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Toà án tiến hành đưa vụ án ra xét xử vắng mặt đối với bà V, ông T.

Về yêu cầu khởi kiện của bà Chu Thị Thanh V, HĐXX xét thấy: Bà Chu Thị Thanh V và ông Trần Thanh T tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2011 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Trảng Dài, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai ngày 27/12/2011, nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc, sau đó thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, suy nghĩ của hai vợ chồng trái ngược nhau. Vì không muốn gia đình đổ vỡ nhiều lần hai vợ chồng đã tìm cách giải quyết nhưng không có kết quả. Hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ năm 2019 cho đến nay không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Thanh T. Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân giữa bà V và ông T thì được địa phương cung cấp như sau: Quá trình chung sống có mâu thuẫn cãi vã. Như vậy, việc mâu thuẫn trong tình cảm vợ chồng giữa bà V, ông T là có thật, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn chung sống, không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc lẫn nhau nữa. Quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho ông T theo quy định nhưng ông T không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình, điều đó cho thấy ông T đã bỏ mặc hôn nhân của mình không muốn hàn gắn lại với bà V. Toà án đã tiến hành hoà giải nhưng bà V vẫn cương quyết ly hôn do không còn tình cảm gì với ông T nữa. Do đó, Tòa án căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận cho bà Chu Thị Thanh V được ly hôn với ông Trần Thanh T.

Về con chung: Bà V xác định quá tình chung sống bà và ông T có với nhau hai con chung là cháu Trần Chu Bảo T, sinh ngày 23/10/2012 và cháu Trần Chu Bảo N, sinh ngày 08/01/2018. Khi ly hôn, bà V xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T và cháu N, tạm thời không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy: Cháu Trần Chu Bảo T, sinh ngày 23/10/2012 và cháu Trần Chu Bảo N, sinh ngày 08/01/2018 hiện nay đang ở với bà V. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án không làm việc được với ông T. Để không làm xáo trộn đời sống tâm sinh lý cũng như việc ăn ở, học hành của cháu T và cháu N. Mặt khác cháu T có nguyện vọng ở với bà V, xét nguyện vọng của cháu T là hoàn toàn chính đáng. Hiện nay các cháu còn nhỏ cần sự chăm sóc của mẹ hơn. Vì vậy cần thiết giao cháu T và cháu N cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp. Bà V không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Ông T được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.

Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

Về ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát và đương sự:

- Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

- Xét yêu cầu của bà V phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí: Bà Chu Thị Thanh V phải nộp toàn bộ án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Ông Trần Thanh T không phải nộp án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 khoản 1 Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Chu Thị Thanh V, bà Chu Thị Thanh V được ly hôn với ông Trần Thanh T.

2. Về con chung: Giao cháu Trần Chu Bảo T, sinh ngày 23/10/2012 và cháu Trần Chu Bảo N, sinh ngày 08/01/2018 cho bà Chu Thị Thanh V được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời ông Trần Thanh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà V không yêu cầu.

Ông T được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.

Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Không xem xét, giải quyết.

4. Về nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

5. Án phí HNGĐ-ST: Bà Chu Thị Thanh V phải nộp 300.000 đồng án phí, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà V đã nộp tại biên lai số 0009143 ngày 16/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa. Bà Chu Thị Thanh V đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ông Trần Thanh T không phải nộp án phí.

6. Quyền kháng cáo: Bà Chu Thị Thanh V, ông Trần Thanh T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ