vanban.org

Bản án 66/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Kim Đ.

Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Duy L, sinh ngày 15-4-2008 cho chị Trần Thị Kim Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chị Đ không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét. Anh Nguyễn Duy Th có quyền, ngh a vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Kim Đ khởi kiện xin ly hôn với anh Nguyễn Duy Th"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Kim Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 08-8-2024
V/v: Tranh chấp ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Xuân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hà Ứng Cương

2. Ông Nguyễn Văn Kiện

Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Như Ngọc – Thư ký Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.

Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 149/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024, về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2024/QĐXX-ST ngày 26 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 45/2024/QĐST-DS ngày 22 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Kim Đ, sinh năm 1982 (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp V, xã H, huyện C, tỉnh Kiên Giang.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Duy Th, sinh năm 1980

HKTT: Kp.A, phường R, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.

Chỗ ở hiện nay: Ấp V, xã H, huyện C, tỉnh Kiên Giang. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị Kim Đ trình bày:

Về hôn nhân: Vào năm 2006, chị Trần Thị Kim Đ và anh Nguyễn Duy Th quen biết và tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại UBND phường R, thành phố G, tỉnh Kiên Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 12-7-2006.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, thời gian sau vợ chồng luôn xảy ra mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày và do anh Th không chăm lo làm ăn, thường xuyên ăn nhậu rồi về nhà chửi bới, bạo hành vợ con, chị Đ đã cố gắng chịu đựng để vợ chồng hòa thuận nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. chị Đ và anh Th đã sống ly thân từ đầu năm 2023 cho đến nay. Hiện nay chị Đ không còn tình cảm với anh Th nữa. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Đ yêu cầu được ly hôn với anh Th.

Về con chung: chị Đ và anh Th có 01 con chung tên Nguyễn Duy L, sinh ngày 15-4-2008, hiện nay chị Đ đang nuôi dưỡng. chị Đ yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: chị Đ xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Duy Th: Không có ý kiến bằng văn bản theo Thông báo thụ lý vụ án của Tòa án và cũng không có mặt theo giấy triệu tập làm việc, Thông báo phiên họp và Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa của Tòa án.

Tại phiên tòa anh Th vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghị án, Toà án nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Duy Th chưa có ý kiến xác nhận theo đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Trần Thị Kim Đ, Toà án đã làm đầy đủ thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh Th vẫn vắng mặt không lý do. Tại phiên tòa nguyên đơn đồng ý xử vắng mặt bị đơn. Do vậy, căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Kim Đ và anh Nguyễn Duy Th chung sống với nhau vào năm 2006 trên cơ sở hôn nhân hoàn toàn tự nguyện và được UBND phường R, thành phố G, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 12-7-2006, đây là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Kim Đ: Vợ chồng chị Trần Thị Kim Đ và anh Nguyễn Duy Th không còn thương yêu, quý trọng, quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ nhau nữa, thể hiện qua lời trình bày của chị Đ tại Toà án: chị Đ và anh Th có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày và do anh Th không chăm lo làm ăn, thường xuyên ăn nhậu rồi về nhà chửi bới, bạo hành vợ con. chị Đ xác nhận hiện nay chị không còn tình cảm với anh Th nữa. Mặt khác, chị Đ và anh Th đã sống ly thân từ đầu năm 2023 cho đến nay mà vẫn không hàn gắn được tình cảm vợ chồng. Toà án xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Đ và anh Th đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu của chị Đ xin ly hôn với anh Th là có căn cứ để chấp nhận.

Về con chung: Chị Trần Thị Kim Đ và anh Nguyễn Duy Th có 01 con chung tên Nguyễn Duy L, sinh ngày 15-4-2008. chị Đ yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con vì chị có thu nhập ổn định, đủ điều kiện kinh tế nuôi con được.

Xét thấy, từ thời gian chị Đ và anh Th sống ly thân cho đến nay, cháu L vẫn do một mình chị Đ chăm sóc, nuôi dưỡng tốt. Bên cạnh đó, cháu L cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu của chị Đ được tiếp tục nuôi dưỡng cháu L. chị Đ không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập anh Th đúng theo quy định pháp luật nhưng anh Th vẫn vắng mặt không lý do. Vì vậy, Toà án không tiến hành hoà giải, đối chất về tài sản chung và nợ chung giữa anh Th và chị Đ được. Mặt khác, tại Toà án cũng như tại phiên toà chị Đ xác nhận trong thời gian chung sống cùng anh Th, anh chị không tạo lập được tài sản gì và cũng không có nợ ai. Cho nên về phần tài sản chung và nợ chung Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này các đương sự có yêu cầu thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.

Về án phí: Chị Đ là nguyên đơn trong vụ án, do đó chị Đ phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm với số tiền là 300.000 đồng theo quy định tại Nghị quyết về án phí, lệ phí Toà án và tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 28, 147, 227, 228 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của U ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Kim Đ. Cho chị Trần Thị Kim Đ được ly hôn với anh Nguyễn Duy Th.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Duy L, sinh ngày 15-4-2008 cho chị Trần Thị Kim Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chị Đ không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Anh Nguyễn Duy Th có quyền, ngh a vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Trần Thị Kim Đ phải nộp 300.000 đồng nhưng chị Đ được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005511 ngày 17-4-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, chị Đ không phải nộp thêm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền th a thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014”.

5. Quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Kim Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Duy Th vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ