- Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "NĐ Nguyễn Thị D; BĐ Trần Văn K"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị D đối với bị đơn ông Trần Văn K.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2024/HNGĐ-ST. Ngày: 19/8/2024 V/v Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Chiêu Hùng.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lâm Dũ Quang
Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
Ngày 19/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm, công khai vụ án dân sự thụ lý số: 109/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2024, về việc “Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 02/8/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1975. Địa chỉ: Khóm S, Phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
- Bị đơn: Ông Trần Văn K, sinh năm 1963. Địa chỉ: Khóm S, Phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 07/5/2024 cũng như quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị D trình bày: Bà D và ông Trần Văn K tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1992 nhưng không có đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống, vợ chồng bà D có 02 con chung gồm: cháu Trần Văn T (nam), sinh ngày 04/12/1993; cháu Trần Thị Yến N (nữ), sinh ngày 22/12/2005. Hiện cả hai cháu đã trưởng thành. Những năm đầu sống chung hạnh phúc nhưng được thời gian cả hai bất đồng quan điểm, không hợp tính tình, mâu thuẫn không ai biết, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc.
Nay tại phiên tòa bà D yêu cầu Tòa án giải quyết: Về quan hệ hôn nhân: Bà D yêu cầu Tòa án tuyên bố quan hệ sống chung giữa bà D với ông Trần Văn K không phải là quan hệ vợ chồng vì hai người khoogn có đăng ký kết hôn với nhau. Về con chung: Hiện nay các cháu đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Về nợ chung: Không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết .
Lời trình bày của bị đơn ông Trần Văn K tại phiên tòa: Ông K thừa nhận về thời gian chung sống với nhau như bà D trình bày là đúng, hai người có tổ chức lễ cưới vào năm 1992 nhưng không có đi đăng ký kết hôn với nhau. Cuộc sống chung hạnh phúc được một thời gian thì sau đó bất đồng quan điểm sống làm phát sinh nhiều mâu thuẫn, sống chung không còn hạnh phúc. Quá trình chung sống với nhau có 02 người con chung là cháu Trần Văn T (nam), sinh ngày 04/12/1993; cháu Trần Thị Yến N (nữ), sinh ngày 22/12/2005. Về tài sản chung để tự thỏa thuận phân chia với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nợ chung không có.
Nay bà D yêu cầu Tòa án tuyên bố quan hệ chung sống giữa bà D và ông K không phải là vợ chồng thì ông K đồng ý vì hai người không có đi đăng ký kết hôn với nhau. Về con chung: có 02 người con chung là cháu Trần Văn T (nam), sinh ngày 04/12/1993; cháu Trần Thị Yến N (nữ), sinh ngày 22/12/2005 hiện đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về tài sản chung để tự thỏa thuận phân chia không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nợ chung không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Hội đồng xét xử nhận thấy, nguyên đơn bà Nguyễn Thị D yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố quan hệ chung sống giữa bà D và ông K không phải là vợ chồng do hai người chung sống với nhau nhưng không có đăng ký kết hôn. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị D và bị đơn ông Trần Văn K là tranh chấp về hôn nhân theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự và bị đơn có địa chỉ tại khóm S, phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu về quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị D và bị đơn ông Trần Văn K thấy rằng: Bà D và ông K chung sống với nhau từ năm 1992, nhưng đến nay vẫn không đăng ký kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh nghĩa vụ vợ chồng…”. Tại khoản 2 Điều 2 Nghị định số 8016/VBHN-BTP ngày 10 tháng 12 năm 2013 quy định chi tiết về đăng ký kết hôn theo Nghị quyết 35/2000/QH10 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình “N1 và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001 mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn. Từ sau ngày 01 tháng 01 năm 2003 mà họ không đăng ký kết hôn, thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng”. Bà D và ông K chung sống với nhau từ năm 1992 nhưng đến nay vẫn không đi đăng ký kết hôn, nên theo quy định nêu trên pháp luật không công nhận bà D và ông K là vợ chồng.
Về con chung: Bà D và ông K cùng thừa nhận quá trình chung sống với nhau có 02 người con chung gồm cháu Trần Văn T (nam), sinh ngày 04/12/1993; cháu Trần Thị Yến N (nữ), sinh ngày 22/12/2005 hiện nay các con chung đã thành niên, có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân và tại phiên tòa hôm nay bà D và ông K cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung: Các đương sự khẳng định tự thỏa thuận phân chia với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. [6] Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Từ những phân tích nêu trên, xét yêu cầu của nguyên đơn, lời trình bày của bị đơn là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí sơ thẩm: Bà D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị D đối với bị đơn ông Trần Văn K.
- Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị D với ông Trần Văn K.
- Về con chung: cháu Trần Văn T (nam), sinh ngày 04/12/1993; cháu Trần Thị Yến N (nữ), sinh ngày 22/12/2005 hiện nay đã thành niên, có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về tài sản chung: Các đương sự khẳng định tự thỏa thuận phân chia với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
2/ Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà D đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo Biên lai số 0003250 ngày 07/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, bà D đã thực hiện xong. Ông Trần Văn K không phải chịu án phí sơ thẩm.
3/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ST (Phòng KTNV&THA); - VKSND thị xã Vĩnh Châu; - Đương sự; - Chi cục THADS thị xã Vĩnh Châu; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Chiêu Hùng |