vanban.org

Bản án 66/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng H1. Buộc ông Nguyễn Đông H phải trả cho Ngân hàng H1 số nợ tính đến ngày 13/8/2024 là 165.597.364 đồng (Một trăm sáu mươi lăm triệu, năm trăm chín mươi bảy nghìn, ba trăm sáu mươi bốn đồng), trong đó nợ gốc: 102.000.000 đồng (Một trăm linh hai triệu đồng), t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Vụ án dân sự"
  • Tòa quyết gì? Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 66/2024/DS-ST
Ngày 13/8/2024
“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Thơm.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Đức Hoài và bà Trần Thị Mộng Lành.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mau - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện An Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Lai Thị Ngọc Thúy – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 06 và ngày 13 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ dân sự thụ lý số: 191/2023/TLST-DS ngày 11 tháng 12 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 143/2024/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 98/2024/QĐST-DS ngày 15 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng H1.

Trụ sở chính: Tầng D Tòa nhà N đường H, phường T, quận C, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Quốc C, chức vụ: Chủ tịch hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Thanh V, chức vụ: Phó phòng khách hàng doanh nghiệp và cá nhân Ngân hàng H1 thuộc chi nhánh K.

Địa chỉ: Số A N, phường V , thành phố R, tỉnh Kiên Giang (Có mặt)

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Đông H, sinh năm 1976.

Địa chỉ: Ấp T , xã Đ , huyện A, tỉnh Kiên Giang. (Vắng mặt).

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

3.1 Trường tiểu học Đ (Nay là Trường tiểu học Đ1)

Người đại diện: Ông Nguyễn Văn D . Chức vụ: Hiệu trưởng.

Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

3.2 Bà Đinh Kim M, sinh năm 1977

Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình làm việc tại Tòa án, đại diện nguyên đơn trình bày như sau:

Vào ngày 01/02/2018, Ngân hàng H1 với trường tiểu học Đ thỏa thuận ký hợp đồng liên kết số 403/HĐLK, đồng ý cho cán bộ viên chức đang công tác tại trường tiểu học Đ vay vốn. Khoản vay tín chấp được bảo đảm bằng thu nhập từ tiền lương, thưởng, các khoản trợ cấp, phụ cấp và thu nhập khác của người vay.

Vào ngày 16/12/2019, Ngân hàng H1 chi nhánh tỉnh K và ông Nguyễn Đông H là giáo viên trường tiểu học Đ đã ký hợp đồng số TD40300117/HĐCV, theo đó ngân hàng H1cấp tín dụng cho ông Nguyễn Đông H vay vốn như sau:

- Số tiền vay là 200.000.000 đồng (Hai trăm trăm triệu đồng);

- Lãi suất: 11,38%/năm;

- Thời hạn vay: 60 tháng (gốc, lãi được trả hàng tháng, định kỳ mỗi tháng trả gốc 4.000.000 đồng và lãi phát sinh, không trả nợ gốc vào tháng 1, 2 hàng năm);

- Ngày bắt đầu trả nợ 25/3/2020 và ngày trả nợ cuối cùng là 16/12/2024.

- Bảo đảm tiền vay: Bằng thu nhập từ tiền lương và các khoản phụ cấp khác.

Sau một tháng nhận tiền vay thì ông Nguyễn Đông H đã nghỉ việc, sau đó ban giám hiệu nhà trường đã phối hợp trích các khoản trợ cấp và thu nhập còn lại của ông Nguyễn Đông H được số tiền 65.000.000 đồng để trả nợ gốc. Từ tháng 4/2020 đến tháng 5/2021 ông Nguyễn Đông H đã chuyển trả nợ gốc được 33.000.000 đồng. Tính đến ngày 22/8/2023 ông Nguyễn Đông H còn nợ tiền gốc 102.000.000 đồng chưa bao gồm nợ lãi. Ông Nguyễn Đông H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ định kỳ hàng tháng là 10,5 kỳ, ngân hàng đã nhiều lần đến nhà ông Nguyễn Đông H đôn đốc trả nợ nhưng ông Nguyễn Đông H không thực hiện trả nợ.

Số tiền ông Nguyễn Đông H nợ Ngân hàng H1tính đến ngày 13/8/2024 gồm nợ gốc là 102.000.000 đồng, tiền lãi là 63.597.364 đồng trong đó lãi trong hạn là 58.769.438 đồng, tiền lãi quá hạn là 4.827.926 đồng.

Tại phiên toà, đại diện Ngân hàng H1 yêu cầu ông Nguyễn Đông H thanh toán số nợ tính đến ngày 13/8/2024 là 165.597.364 đồng và yêu cầu tiếp tục tính lãi theo hợp đồng vay tiền số TD40300117/HĐCV ngày 16/12/2019 cho đến ngày ông Nguyễn Đông H trả hết nợ.

Đối với Trường tiểu học Đ (nay là Trường tiểu học Đ1) sau khi ông Nguyễn Đông H nghỉ việc phía nhà trường đã phối hợp trích các khoản trợ cấp và thu nhập còn lại của ông Nguyễn Đông H được số tiền 65.000.000 đồng để trả vào phần nợ gốc cho ông Nguyễn Đông H nay Ngân hàng H1 không còn yêu cầu gì đối với đại diện của nhà trường.

Ngân hàng Hợp tác xã cũng không yêu cầu trách nhiệm liên đới của bà Đinh Kim M đối với số nợ của ông Nguyễn Đông H, lý do món vay của ông Nguyễn Đông H là vay tín chấp được trả bằng lương hàng tháng và trách nhiệm trả nợ thuộc về cá nhân ông Nguyễn Đông H.

Bị đơn ông Nguyễn Đông H đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không gửi văn bản nêu ý kiến về yêu cầu khởi kiện, không có yêu cầu phản tố và không có ý kiến phản đối trước yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.

Chứng cứ nguyên đơn cung cấp là toàn bộ hồ sơ vay vốn, gồm: Hợp đồng cho vay tiền (bản photo); phương án sử dụng vốn và cam kết trả nợ (bản photo); tờ thẩm định (bản photo); 04 thông báo chuyển nợ quá hạnh (bản photo); 13 thông báo về việc đề nghị khách hàng trả nợ (bản photo); bản tính lãi khách hàng Nguyễn Đông H (bản chính); Quyết định về việc ủy quyền tham gia tố tụng (bản sao); quyết định về việc luân chuyển và bổ nhiệm cán bộ (bản chính); quyết định về việc bổ nhiệm lại chức vụ giám đốc (bản sao).

Ý kiến phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đề nghị áp dụng Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Không có kiến nghị về phần thủ tục tố tụng.

Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Biên, căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Biên.

Bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (M) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (M). Đại diện Trường tiểu học Đ (Nay là Trường tiểu học Đ1) vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt Trường tiểu học Đ (Nay là Trường tiểu học Đ1).

Về nội dung vụ án:

Quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán tiền nợ vay từ hợp đồng tín dụng. Vì vậy, xác định quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng H1, Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp đồng cho vay số TD40300117/HĐCV ngày 16/12/2019 được ký kết trên tinh thần tự nguyện, được lập thành văn bản, hình thức, nội dung và mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội được xác định là hợp đồng hợp pháp. Kể từ thời điểm hợp đồng được xác lập các bên có trách nhiệm thực hiện những nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, nhận thấy: Theo hợp đồng cho vay số TD40300117/HĐCV ngày 16/12/2019 Ngân hàng H1 đã thực hiện giải ngân cho ông Nguyễn Đông H vay số tiền 200.000.000 đồng, việc giải ngân được thể hiện cùng trong hợp đồng tín dụng có chữ ký xác nhận của ông Nguyễn Đông H. Trong quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Đông H đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có yêu cầu phản tố hay ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Theo trình bày của Ngân hàng H1 và xác nhận của Trường tiểu học Đ khi vay tiền được một tháng thì ông Nguyễn Đông H đã xin nghỉ việc từ tháng 01 năm 2020, sau đó ban giám hiệu nhà trường đã phối hợp trích các khoản trợ cấp và thu nhập còn lại của ông Nguyễn Đông H được số tiền 65.000.000 đồng để trả nợ gốc. Từ tháng 4 năm 2020 đến tháng 5 năm 2021 ông Nguyễn Đông H đã chuyển trả nợ gốc được 33.000.000 đồng. Kể từ ngày 22/8/2023 trở đi ông Nguyễn Đông H không thực hiện trả vốn, lãi theo thỏa thuận. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Đông H không cung cấp chứng cứ chứng minh việc đã trả nợ cho Ngân hàng H1.

Việc bên vay không thực hiện trả vốn và lãi theo hợp đồng đã vi phạm quy định tại Điều 4 của hợp đồng TD40300117/HĐCV, do đó yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng H1 là có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều 9 của Hợp đồng TD40300117/HĐCV, Điều 280 và khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự. Vì vậy xác định yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng H1 là có căn cứ chấp nhận và cần buộc ông Nguyễn Đông H phải trả cho Ngân hàng H1tổng số tiền tính đến ngày 06/8/2024 là 165.597.364 đồng đồng thời tiếp tục phải trả lãi theo mức lãi suất được quy định trong hợp đồng số TD40300117/HĐCV ngày 16/12/2019 cho đến khi trả hết nợ.

Sau khi ông Nguyễn Đông H vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng TD40300117/HĐCV, Ngân hàng H1 đã phối hợp cùng Ban giám hiệu Trường tiểu học Đ để trích các khoản trợ cấp và thu nhập còn lại của ông Nguyễn Đông H được số tiền 65.000.000 đồng trả vào số tiền nợ của ông Nguyễn Đông H. Ngân hàng H1 khởi kiện yêu cầu giải quyết trách nhiệm trả nợ của người vay là ông Nguyễn Đông H và xác định phía Ban giám hiệu Trường tiểu học Đ đã hoàn thành trách nhiệm bảo lãnh nên không có yêu cầu gì với phía nhà trường Tiểu học Đ nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với bà Đinh Kim Mỹ là vợ của ông Nguyễn Đông H, đại diện Ngân hàng H1 xác định số nợ 165.597.364 đồng là nợ của cá nhân ông Nguyễn Đông H và món nợ vay của ông H được bảo đảm bằng nguồn lương và phụ cấp của ông H, bà Đinh Kim M không có liên quan nên phía Ngân hàng không có yêu cầu gì về trách nhiệm của bà Đinh Kim M do đó Hội đồng xét xử không xem xét trách nhiệm liên đới của bà Đinh Kim M đối với số nợ ông mà Nguyễn Đông H còn nợ của Ngân hàng H1.

Về ý kiến phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng và đề nghị hướng giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát huyện An Biên tại phiên tòa là có cơ sở và căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử đã xem xét và ghi nhận trong quá trình giải quyết vụ án.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng H1 được chấp nhận nên buộc ông Nguyễn Đông H phải nộp toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật là: 165.597.364 đồng x 5% = 8.279.868 đồng.

Hoàn trả cho Ngân hàng H1 số tiền đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm 3.767.500 đồng theo biên lai thu tiền số 0009037 ngày 27/11/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện An Biên.

Lệ phí đăng thông báo:

Lệ phí đăng tin trên Báo Công Lý là 3.000.000 đồng theo Hoá đơn giá trị gia tăng số 00001090 ngày 21/5/2024 và chi phí đăng tin trên Trung tâm quảng cáo và dịch vụ truyền thông tại Thành phố Hồ Chí Minh VOV là 1.500.000 đồng theo Hoá đơn giá trị gia tăng số 206 ngày 17/5/2024 Ngân hàng H1 chịu trách nhiệm nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

- Các Điều 26, 35, 144, 147, 227, 228 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Các điều 280, 463, 466 Bộ luật dân sự;

- Các điều 90, 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng;

- Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng H1.

Buộc ông Nguyễn Đông H phải trả cho Ngân hàng H1 số nợ tính đến ngày 13/8/2024 là 165.597.364 đồng (Một trăm sáu mươi lăm triệu, năm trăm chín mươi bảy nghìn, ba trăm sáu mươi bốn đồng), trong đó nợ gốc: 102.000.000 đồng (Một trăm linh hai triệu đồng), tiền lãi là 63.597.364 đồng (Sáu mươi ba triệu, năm trăm chín mươi bảy nghìn, ba trăm sáu mươi bốn đồng), trong đó lãi trong hạn là 58.769.438 đồng (Năm mươi tám triệu, bảy trăm sáu mươi chín nghìn, bốn trăm ba mươi tám đồng) và tiền lãi quá hạn là 4.827.926 đồng (Bốn triệu, tám trăm hai mươi bảy nghìn, chín trăm hai mươi sáu đồng) đồng thời tiếp tục phải trả lãi theo mức lãi suất được quy định trong hợp đồng số TD40300117/HĐCV ngày 16/12/2019 cho đến khi trả hết nợ.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Buộc ông Nguyễn Đông H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm số tiền 8.279.868 đồng đồng (Tám triệu, hai trăm bảy mươi chín nghìn, tám trăm sáu mươi tám đồng).

Hoàn trả cho Ngân hàng H1 số tiền đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm 3.767.500 đồng (Ba triệu, bảy trăm sáu mươi bảy nghìn, năm trăm đồng) theo biên lai thu tiền số số 0009037 ngày 17/11/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện An Biên.

3. Lệ phí đăng tin thông báo:

Lệ phí đăng tin trên Báo Công Lý là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) theo Hoá đơn giá trị gia tăng số 00001090 ngày 21/5/2024 và chi phí đăng tin trên Trung tâm quảng cáo và dịch vụ truyền thông tại Thành phố Hồ Chí Minh VOV là 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) theo Hoá đơn giá trị gia tăng số 206 ngày 17/5/2024 Ngân hàng H1 chịu trách nhiệm nộp và đã nộp xong.

4. Báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 13/8/2024. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kề từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

"Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự"./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ