vanban.org

Bản án 66/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. An Khê, tỉnh Gia Lai Tuyên án 13/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Trọng N phạm tội “Hủy hoại tài sản”;

Xử phạt bị cáo Trần Trọng N 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 16 tháng 8 năm 2023). Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hủy hoại tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Trọng N phạm tội “Hủy hoại tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ A - TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2023/HS-ST
Ngày: 13-12-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A - TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Tứ Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Văn Dũng và bà Văn Thị Thu Vân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Hường - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Huyền Bích - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 63/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Trọng N, tên gọi khác: Nghĩa em; sinh ngày 06/10/1995 tại A, Gia Lai; nơi cư trú: Tổ B, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn L và Phạm Thị T (đã chết); bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không, tiền sự: Ngày 14/12/2020, bị Công an thị xã A xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000đ về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác, bị cáo chưa chấp hành; về nhân thân: Ngày 25/12/2009, bị Công an phường A xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi trộm cắp vặt. Ngày 03/3/2010, bị Công an phường A lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, đến ngày 16/6/2010, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thời hạn 6 tháng về hành vi trộm cắp tài sản, chấp hành xong ngày 17/12/2010. Ngày 08/11/2012, bị Công an phường A xử phạt vi phạm hành chính 375.000đ về hành vi đánh nhau, bị cáo đã nộp tiền phạt. Ngày 30/10/2012, bị Công an phường A lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau nên ngày 16/11/2012, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thời hạn 6 tháng về hành vi đánh nhau, ngày 21/02/2013, Ủy ban nhân dân phường A ra Quyết định tạm đình chỉ biện pháp giáo dục tại cấp xã. Ngày 07/11/2013, miễn chấp hành phần còn lại của biện pháp giáo dục tại cấp xã đối với N. Ngày 18/9/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Kông Chro xử phạt 06 tháng tù về tội cố ý làm hư hỏng tài sản theo Bản án số 17/2013/HS-ST; bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 05/5/2014. Ngày 16/9/2015, bị Tòa án nhân dân thị xã A xử phạt 03 năm 09 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích theo Bản án số 33/2015/HSST. Ngày 22/10/2015, bị Tòa án nhân dân thị xã A xử phạt 09 tháng tù về tội gây rối trật tự công cộng theo Bản án số 37/2015/HSST. Ngày 21/7/2019 bị cáo chấp hành xong hình phạt của cả hai bản án và đã chấp hành xong các quyết định khác của bản án. Bị tạm giam từ ngày 16/8/2023 cho đến nay; có mặt.

- Bị hại:

1. Trần Hữu N1, sinh năm 1995; địa chỉ: Tổ B, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai; vắng mặt.

2. Trần Văn L, sinh năm 1965; ; địa chỉ: Tổ B, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai; có mặt.

3. Nguyễn Thị Lan A, sinh năm 1994; địa chỉ: Tổ B, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai, vắng mặt.

- Ng i có quy n l i nghĩa v liên quan đ n v án: Trần Văn Đ, sinh năm 1990; địa chỉ: Tổ B, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Trọng N và Trần Hữu Nghĩa là hai anh em sinh đôi và là anh em cùng cha khác mẹ với Trần Văn Đ. Vào khoảng 19 giờ ngày 07/6/2023, Trần Trọng N cùng Trần Hữu N1 và Trần Văn Đ tổ chức uống rượu tại nhà cha đẻ là ông Trần Văn L ở Tổ B, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Trong quá trình uống rượu, Đ thấy mệt nên không uống nữa và đi vào phòng nằm. Bực tức do Đ bỏ đi không nói gì nên Trần Trọng N lấy 01 con dao tự chế bằng kim loại màu trắng, dài 61,5cm, phần lưỡi dao dài 39,5cm, mũi dao nhọn, mặt lưỡi dao nơi rộng nhất là 6,3cm, phần cán dao dài 22cm trong phòng của N cầm trên tay phải đi vào phòng ngủ của Đ. Khi vào phòng thấy Đ nằm trên võng, Trần Trọng N gọi Đ đứng dậy, Đ đứng đối diện cách N khoảng 01m, lúc này Trần Trọng N cầm con dao tự chế chém Đ một cái theo hướng từ trên xuống thì lưỡi dao trúng vào đầu Đ, Đ bỏ chạy. Trần Trọng N tiếp tục cầm dao tự chế đi ra trước nhà, chém nhiều nhát vào cửa chính và cửa sổ bên hông nhà làm kính bị vỡ. Sau đó, Trần Trọng N bỏ dao trong nhà rồi ra hiên nhà ngồi. Lúc này còn bực tức với Đ nên khi thấy Trần Hữu N1 đang cầm điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s thì Trần Trọng N giật điện thoại của Trần Hữu N1 rồi đập xuống nền gạch làm điện thoại bị vỡ làm hai. Sau đó, thấy xe mô tô biển số 81G1 - 258.49 của Trần Hữu N1 dựng trước sân, Trần Trọng N tiếp tục nhặt 01 đoạn cây gỗ, dài 1,76m, đường kính đầu lớn nhất là 5cm, đường kính đầu cây nhỏ nhất là 3,5cm đập 01 cái vào đầu xe làm vỡ nhựa mặt nạ xe và đập 01 cái vào đuôi xe mô tô biển số 81G1 - 258.49 làm gãy dè nhựa gắn biển số xe.

Sau đó, Đ được mọi người đưa đến trạm y tế phường A sơ cứu vết thương, rồi Đ cùng ông Trần Văn L đến Công an phường A trình báo sự việc. Sau khi trình báo xong, Đ đến Trung tâm y tế thị xã A điều trị vết thương, đến ngày 08/6/2023 xuất viện.

Tại Kết luận định giá tài sản số 28/KL-HDĐGTS ngày 26 tháng 6 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã A xác định, giá trị tài sản bị thiệt hại vào thời điểm ngày 07/6/2023, cụ thể như sau:

- 06 tấm kính loại kính mờ, có hoa văn, kích thước (0,6x1,8)cm, dày 0,4cm là 1.425.000đ (một triệu bốn trăm hai mươi lăm nghìn đồng).

- 02 (hai) tấm kính loại kính mờ, có hoa văn, kích thước (0,45x1)m, dày 0,4cm là 198.000đ (một trăm chín mươi tám nghìn đồng).

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S plus màu trắng bạc, loại A1687 dung lượng 16GB là 2.100.000đ (hai triệu một trăm nghìn đồng).

- 01 (một) ốp nhựa đầu xe Honda Wave RSX biển kiểm soát 81G1-258.49 là 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng).

- 01 (một) dè nhựa chắn bùn sau đuôi xe Honda Wave RSX, biển kiểm soát 81G1-258.49 là 230.000đ (hai trăm ba mươi nghìn đồng).

Tại Bản Kết luận giám định số: 361/KLTTCT-TTPY ngày 18 tháng 7 năm 2023 của Trung tâm pháp y tỉnh G xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Trần Văn Đ do thương tích gây ra là 02% (hai phần trăm).

Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã A thu giữ các vật chứng gồm:

- 01 (một) con dao tự chế bằng kim loại màu trắng dài 61,5cm, phần lưỡi dao dài 39,5cm, mũi dao nhọn, mặt lưỡi dao nơi rộng nhất là 6,3cm, phần cán dao dài 22cm.

- 01 (một) đoạn cây gỗ dài 1,76m, đường kính đầu lớn nhất là 5cm, đường kính đầu cây nhỏ nhất là 3,5cm;

- 01 (một) điện thoại di động Iphone 6S Plus màu trắng bạc bị vỡ thành hai phần, phần màn hình điện thoại có mặt kính bị nứt vỡ hoàn toàn, phần thân máy trên mặt pin có vết đứt, hằn kích thước (5x0,5)cm;

- 01 (một) xe mô tô Honda Wave RSX màu trắng đen số khung 3855LY006286, số máy JA52E0090968;

- 01 (một) biển số xe mô tô biển kiểm soát: 81G1 - 258.49 bị cong móp góc dưới bên phải về phía sau, mặt nhựa mica bị nứt vỡ diện (8x13)cm được gắn trên một phần dè chắn bùn màu đen;

- 03 (ba) mảnh nhựa màu đen không rõ hình dạng có kích thước lần lượt là: 01 (Một) mảnh có chiều dài lớn nhất là 26,5cm chiều rộng lớn nhất là 6cm; 01 (Một) mảnh có chiều dài lớn nhất là 8cm, chiều rộng lớn nhất là 6cm; 01 (Một) mảnh có chiều dài lớn nhất là 13,5cm, chiều rộng lớn nhất là 8cm.

Về xử lý vật chứng trong quá trình điều tra: Ngày 10/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô biển số 81G1-258.49 nhãn hiệu Honda, loại RSX màu trắng số khung 3855LY006286, số máy JA52E0090968 và 01 biển số xe mô tô 81G1-258.49 cho Trần Hữu N1.

Tại Bản cáo trạng số: 66/CT-VKS ngày 09/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã A đã truy tố bị cáo Trần Trọng N về tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã A giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Trọng N phạm tội “Hủy hoại tài sản”; đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ: 09 tháng đến 12 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: 01 (một) con dao tự chế bằng kim loại màu trắng dài 61,5cm; 01 (một) đoạn cây gỗ dài 1,76m; 01 (một) điện thoại di động Iphone 6S Plus màu trắng bạc bị vỡ thành hai phần; 03 (ba) mảnh nhựa màu đen không rõ hình dạng.

Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Trọng N thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo ăn năn về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến kiến nghị hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án do đó đã có đủ cơ sở xác định: Bị cáo Trần Trọng Nghĩa là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được việc hủy hoại tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vào tối ngày 07/6/2023 ba anh em Trần Trọng N, Trần Hữu N1, Trần Văn Đ tổ chức uống rượu tại nhà ông Trần Văn L thuộc Tổ B, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Trong quá trình uống rượu, Đ thấy mệt nên không uống nữa và đi vào phòng nằm. Bực tức do Đ bỏ đi không nói gì nên Trần Trọng N đã sử dụng 01 con dao tự tạo chém trúng vào vùng đầu của Đ gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02% (hai phần trăm). Sau đó, Trần Trọng N tiếp tục dùng dao chém vào cửa chính và cửa sổ làm vỡ kính nhà ông Trần Văn L gây thiệt hại 1.623.000đ; dùng tay giật điện thoại nhãn hiệu Iphone 6S plus của anh Trần Hữu N1 rồi ném xuống nền nhà làm điện thoại vỡ làm hai, thiệt hại 2.100.000đ và dùng cây gỗ đập vỡ ốp nhựa đầu xe và dè nhựa chắn bùn của xe mô tô biển số 81G1 - 258.49 của anh Trần Hữu N1, thiệt hại 380.000đ. Tổng giá trị thiệt hại là 4.103.000đ. Do đó, đã đủ cơ sở tuyên bố bị cáo Trần Trọng N phạm tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị hại đều xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án và nhiều lần bị xử phạt hành chính. Trên cơ sở cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đặc điểm về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có việc làm, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 178 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Về dân sự: Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án đều không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xét.

Về xử lý vật chứng: Xét thấy các vật chứng của vụ án gồm: 01 (một) con dao tự chế bằng kim loại màu trắng dài 61,5cm; 01 (một) đoạn cây gỗ dài 1,76m; 01 (một) điện thoại di động Iphone 6S Plus màu trắng bạc bị vỡ thành hai phần; 03 (ba) mảnh nhựa màu đen không rõ hình dạng đều không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy. Đối với các vật chứng khác trong vụ án, Cơ quan điều tra Công an thị xã A đã xử lý theo thẩm quyền nên Hội đồng xét xử không đề cập.

Đối với hành vi của Trần Trọng N sử dụng dao là hung khí nguy hiểm chém trúng vào vùng đầu của anh Trần Văn Đ gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02% (hai phần trăm). Do anh Trần Văn Đ không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Trần Trọng Nghĩa l có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 260; khoản 1 Điều 268; khoản 1 Điều 292; khoản 1 Điều 299; khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ khoản 1 Điều 178; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

1. Tuyên bố bị cáo Trần Trọng N phạm tội “Hủy hoại tài sản”;

2. Xử phạt bị cáo Trần Trọng N 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 16 tháng 8 năm 2023).

3. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm:

- 01 (một) con dao tự chế bằng kim loại màu trắng dài 61,5cm, phần lưỡi dao dài 39,5cm, mũi dao nhọn, mặt lưỡi dao nơi rộng nhất là 6,3cm, phần cán dao dài 22cm.

- 01 (một) đoạn cây gỗ dài 1,76m, đường kính đầu lớn nhất là 5cm, đường kính đầu cây nhỏ nhất là 3,5cm;

- 01 (một) điện thoại di động Iphone 6S Plus màu trắng bạc bị vỡ thành hai phần, phần màn hình điện thoại có mặt kính bị nứt vỡ hoàn toàn, phần thân máy trên mặt pin có vết đứt, hằn kích thước (5x0,5)cm;

- 03 (ba) mảnh nhựa màu đen không rõ hình dạng có kích thước lần lượt là: 01 (Một) mảnh có chiều dài lớn nhất là 26,5cm chiều rộng lớn nhất là 6cm; 01 (Một) mảnh có chiều dài lớn nhất là 8cm, chiều rộng lớn nhất là 6cm; 01 (Một) mảnh có chiều dài lớn nhất là 13,5cm, chiều rộng lớn nhất là 8cm.

(Đặc điểm, tình trạng vật chứng c thể nh biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 10/11/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát đi u tra Công an thị xã A và Chi c c Thi hành án dân sự thị xã A).

4. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Trọng N phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (13/12/2023) bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử theo trình tự phúc thẩm. Riêng đối với những bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ