- Tranh chấp gì? án hình sự — "cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê T đã phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2023/HS-ST Ngày: 24-8-2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Xuân Đức.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Xuân Mai
Ông Nguyễn Bá Duy Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Anh – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Quốc Vương - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 71/2023/HS-ST ngày 01 tháng 8 năm 2023, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2023/HSST-QĐ ngày 11 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
L S T, giới tính: nam, sinh ngày 15-12-1993 tại Thành phố Hồ Chí Minh; trú tại: 165/22 Phạm Văn Hai, Phường 5, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: giao hàng; trình độ văn hóa: 10/12; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê T và bà Trần Thị Thu H; tiền án: ngày 25/4/2019, bị Tòa án nhân dân Quận 3 xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, bản án số 23/2019/H - T, ngày 29/9/2021, chấp hành xong hình phạt tù; tiền sự: không; nhân thân: ngày 06/02/2013, bị Tòa án nhân dân Quận 3 xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, bản án số 29/H T; bị bắt phạm tội quả tang ngày 09-12-2022. (Có mặt).
Bị hại: Nguyễn Thành T, sinh 1993
Địa ch : 15/9 Hòa Hưng, Phường 12, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 40 phút ngày 08/12/2022, Lê T điều khiển xe máy hiệu Future Neo, biển số 59L1-602.22 đi trên đường Nguyễn Phúc Nguyên hướng từ ngã sáu Dân chủ về ga ài Gòn. Khi đến trước số 115 Nguyễn Phúc Nguyên, Phường 10, Quận 3, Tân nhìn thấy anh Nguyễn Thành T đang dừng xe máy mua mì, trên cổ anh T có đeo sợi dây chuyền vàng. Nảy sinh lòng tham, T chạy xe áp sát và dùng tay trái giật sợi dây chuyền trên cổ anh T rồi tăng ga chạy về hướng ga Sài Gòn. Anh T chạy theo và tri hô “Cướp, cướp”, lúc đó anh Trần Hoàng Anh Đức và Trần Mạnh Cường thuộc Tổ hình sự đặc nhiệm Công an Quận 3 đang tuần tra trên tuyến đường Nguyễn Phúc Nguyên nhìn thấy nên đã truy đuổi và bắt giữ Lê T tại trước địa ch 202 Nguyễn Phúc Nguyên, Phường 9, Quận 3 và đưa về Công an Phường 10, Quận 3 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 3 xử lý.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Lê T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, phù hợp với toàn bộ tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 19/KL-HĐĐGT ngày 09/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 3, xác định: 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng dài khoàng 50 cm, có móc khóa dập số T620 (khối lượng 7,0457 gam, hàm lượng Au: 62,25%, khối lượng 1,881 ch ) vào thời điểm tháng 12/2022 trị giá 5.799.000 đồng.
Bản cáo trạng số 67/CT-VKS-Q3 ngày 24-7-2023 Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 đã truy tố bị cáo Lê T về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; đề nghị xử phạt bị cáo từ 05 năm đến 06 năm tù.
Về vật chứng: giao cho Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 3 xử lý đối với 01 xe gắn máy biển số 59L1-602.22; giao trả cho bị cáo 01 điện thoại di động; tịch thu, tiêu hủy số tài sản còn lại.
Bị cáo Lê T đã nhận thấy hành vi vi phạm pháp luật của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 3, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng cùng với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở để kết luận: bị cáo Lê T là đối tượng đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm tr ng do cố ý, chưa hết thời gian để được xem là đã xóa án tích. Khoảng 23 giờ 40 phút ngày 08-12-2022, bị cáo T điều khiển xe máy hiệu Future Neo, biển số 59L1-602. lưu thông trên đường Nguyễn Phúc Nguyên với mục đích tìm người có tài sản sơ hở để cướp giật. Khi đến trước số 115 Nguyễn Phúc Nguyên, Phường 10, Quận 3 thì phát hiện anh Nguyễn Thành T đang dừng xe máy mua mì, trên cổ anh T có đeo sợi dây chuyền vàng, bị cáo chạy xe áp sát và dùng tay trái giật sợi dây chuyền trên cổ anh T rồi tăng ga tẩu thoát là đã phạm tội “Cướp giật tài sản” trong trường hợp quy định tại điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo Lê T đã bị xử lý hình sự nhiều lần về hành vi chiếm đoạt tài sản do vậy bị cáo hoàn toàn biết rõ việc chiếm đoạt tài sản của người khác là sai trái sẽ bị xã hội lên án, pháp luật trừng trị; nhưng do động cơ tham lam và nhằm để thỏa mãn cơn nghiện nên bị cáo đã cố ý thực hiện việc phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương; do vậy bị cáo phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về hành vi mà mình đã gây ra.
Tuy nhiên cũng xem xét tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ thật sự ăn năn hối cải; do đó áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
Về hậu quả của vụ án: anh Nguyễn Thành T đã nhận lại được tài sản và không yêu cầu gì thêm; trong quá trình thực hiện hành vi cướp giật tài sản, T đã gây thương tích cho anh T với các vết xây xát da, bầm tụ máu ở cổ và vai gáy nhưng anh T không yêu cầu xử lý hình sự do đó tòa miễn xét.
Về vật chứng của vụ án: 01 (Một) xe mô tô hiệu Honda Future Neo, màu xám đen, gắn biển số 59L1-602.22, số khung: RLHJC35007Y200345; số máy: JC35E-0600655, bị cáo khai mua trên mạng, không làm thủ tục sang tên. Qua xác minh biển số 59L1-602. gắn trên xe là giả, biển số này được cấp cho xe Honda Wave , số khung CY-685456; số máy C52-E-4358725. Xác minh số khung, số máy chiếc xe Honda Future Neo trên thì người đứng tên đăng ký xe là anh Nguyễn Văn Q. Anh Q khai xe có biển số 99H8-8024, đã bán từ năm 2008 cho người không rõ lai lịch, không làm thủ tục sang tên. Cơ quan điều tra đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng đến nay v n không có sự phản hồi, do vậy giao cho Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 3 xử lý là có căn cứ; giao trả cho bị cáo 01 điện thoại di động; số tài sản còn lại không có giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê T đã phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Lê T 05 (năm) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bị bắt phạm tội quả tang là ngày 09 tháng 12 năm 2022.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3 làm thủ tục thông báo trên báo để tìm và trả lại một xe gắn máy hiệu Honda Future Neo, biển số: 59L1- 602.22 màu xám đen, số khung: RLHJC35007Y200345, số máy: JC35E-0600655, xe cũ đã qua sử dụng, chưa kiểm tra tình trạng bên trong. Nếu quá 06 (sáu) tháng kể từ ngày ra thông báo mà không có chủ sở hữu hợp pháp đến nhận xe thì tịch thu và nộp ngân sách nhà nước. Nếu chủ sở hữu hợp pháp là bị cáo trong vụ án thì tịch thu và nộp ngân sách nhà nước.
Tịch thu và tiêu hủy: 01 áo thun màu trắng cổ tròn, tay ngắn; 01 quần Jean dài màu xám trắng; 01 đôi giày thể thao màu đen; 01 mắt kính cận màu đen. Tất cả đã qua sử dụng.
Giao trả cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu am ung A71; số eri: 58N527JTEN; số Imei 1: 353408114469800; số Imei 2: 353409114469808. Đã qua sử dụng, chưa kiểm tra tình trạng bên trong;
(Tài sản giao trả, giao cho Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3 và tịch thu, tiêu hủy theo Lệnh nhập kho vật chứng số 690/LNK-ĐTTH ngày 21-5-2023 của Công an Quận 3).
Áp dụng khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận : - TAND Tp. HCM; - VKSND Quận 3; - Công an Quận 3; - Sở Tư pháp; - Chi cục Thi hành án dân sự Q3; - Các đương sự; - Lưu VP, Hồ sơ (…) | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHI N TÒA Vƣơng Xuân Đức |