vanban.org

Bản án 66/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 1, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 11/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

01 xe mô tô hiệu Piaggio, loại Vespa, biển số 59V1 – 535.

Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 1.500.000 đồng (một triệu, năm trăm nghìn đồng). Trả lại cho bị cáo số tiền 987.500 đồng (chín trăm tám mươi bảy nghìn năm trăm đồng) Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Thành N phạm trội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 01 xe mô tô hiệu Piaggio, loại Vespa, biển số 59V1 – 535.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2023/HS-ST
Ngày 11-5-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Nhật Minh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Bùi Thị Thúy Hiền;

2. Bà Nghiêm Thị Xuân Huê.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Sơn Hà.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 tham gia phiên toà: Ông M Đức Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 55/2023/HSST ngày 28 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 353/2023/QĐXXST- HS ngày 18 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Phan Thành N, sinh ngày 15/11/1986 tại Thành phố Hồ Chí Minh: Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 108/27/11 Võ Duy Ninh, tổ dân phố 22, Phường 22, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 153/141 Điện Biên Phủ, Phường 15, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh; Không nghề nghiệp; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Công Thắng và bà Trương Thị Tuyết Vân; Hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ con; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt và tạm giam từ ngày 09/12/2022, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Nguyễn Đông Th, sinh năm 1997; Địa chỉ: 335 NguyễnVăn Linh, Phú Lâm, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.(vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Phạm Văn K, sinh năm 1998; Địa chỉ: 53/28/2B đường 18, phường Linh Trung, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào 18 giờ ngày 26/11/2022, Phan Thành N hẹn gặp anh Nguyễn Đông Th tại phòng 103 khách sạn Hồng Hà số 2A/9 Nguyễn Thị Minh Khai, phường Đa Kao, Quận 1 (do trước đó N và anh Th quen nhau qua ứng dụng hẹn hò “LITMATCH”). Sau khi vào phòng khách sạn, anh Th có để 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax 128Gb, màu xám, số Imei: 350981863464613 trên giường rồi đi tắm, còn N ngồi ngoài đợi nhìn thấy nên nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại di động. Lợi dụng lúc anh Th vào nhà tắm, N lấy điện thoại nói trên rồi đi về nhà tại 153/141 Điện Biên Phủ, Phường 15, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi về đến nhà, thông qua ứng dụng Zalo của mình, N tìm thông tin ngày sinh của anh Th là 050996 để mở mật khẩu điện thoại và tài khoản Momo trên điện thoại (anh Th khai cài mật khẩu điện thoại và mật khẩu tài khoản ví Momo là 050996. Khoảng 00 giờ 45 phút ngày 28/11/2022, N sử dụng điện thoại di động chiếm đoạt được của anh Th, đăng nhập vào ứng dụng Momo trên điện thoại, thao tác chuyển số tiền 50.000.000 đồng từ tài khoản số 104867865683 của anh Nguyễn Đông Th, mở tại ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (Vietinbank) đến tài khoản Momo số "0929335528" của anh Th. Sau đó, N tiếp tục sử dụng ứng dụng Momo trong điện thoại của anh Th, chuyển nhiều lần với tổng số là 44.512.500 đồng (44.210.000 đồng và phí chuyển tiền 302.500 đồng) đến tài khoản số 0795572742986 của Phan Thành N, mở tại Ngân hàng TMCP Quân đội (MB), và nạp tiền điện thoại cho N số tiền là 200.000 đồng. Số tiền còn lại N tiếp tục chuyển 03 lần nữa nhưng không chuyển được nên không thực hiện chuyển tiền tiếp.

Ngày 29/11/2022, N xóa hết dữ liệu trong chiếc điện thoại di động của anh Th và đăng bán trên mạng xã hội Facebook. Đến ngày 30/11/2022, N bán chiếc điện thoại di động cho anh Phạm Văn K được số tiền 13.500.000 đồng, khi bán N không cho anh K biết điện thoại là do N phạm tội mà có. Anh K khai không biết chiếc điện thoại di động đã mua là tài sản do N phạm tội mà có.

Theo Kết luận định giá tài sản số 349/KL-HĐĐGTS ngày 06/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận 1 kết luận: Điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, dung lượng 128 Gb, màu xám trị giá 12.600.000 đồng.

Qua điều tra xác định Phan Thành N là người thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 đã đưa về trụ sở để điều tra làm rõ.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Phan Thành N khai nhận một mình thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” là 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax 128Gb, màu xám và chiếm đoạt số tiền 44.512.500 đồng (44.210.000 đồng + phí chuyển tiền 302.500 đồng) trong ví Momo của anh Nguyễn Đông Th phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 đã thu thập được.

Vật chứng vụ án: 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, dung lượng 128Gb, màu xám được thu giữ từ anh Phạm Văn K mua lại của N, là tài sản của anh Nguyễn Đông Th, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 đã trả lại cho anh Th.

- Số tiền 47.000.000 đồng do N tự nguyện giao nộp, Cơ quan Điều tra đã trả lại cho anh Nguyễn Đông Th số tiền 44.512.500 đồng, còn lại số tiền 2.487.500 đồng (trong đó có 1.500.000 đồng là tiền N bán điện thoại rồi mua xe mô tô còn dư và 987.500 đồng là tiền của N) đã nhập kho vật chứng.

- 01 (một) xe mô tô hiệu Piaggio, loại vespa, biển số 59V1-535.51 kèm giấy đăng ký xe 59V1-535.51. Qua xác minh xe mô tô biển số 59V1-535.51 do bà Nguyễn Thị Ngọc M đứng tên chủ sở hữu, bà M khai đã bán xe cho người khác, không làm giấy tờ mua bán nên không rõ tên, địa chỉ người mua xe. N khai xe mô tô biển số 59V1-535.51 do N mua của Phạm Bá Khánh trên trang “Chợ tốt” với giá 12.000.000 đồng bằng tiền bán điện thoại đã trộm cắp được, khi mua có lập giấy mua bán viết tay. Anh Phạm Bá Khánh khai mua xe mô tô biển số 59V1-535.51 của người đàn ông (không rõ lai lịch) với giá 8.000.000 đồng, khi mua không làm giấy tờ mua bán, sau đó anh Khánh đăng bán xe trên trang “Chợ tốt” rồi bán xe mô tô cho Phan Thành N, khi mua bán có làm giấy mua bán viết tay. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã cho đăng báo Công an Thành phố Hồ Chí Minh đề tìm chủ sở hữu hoặc người có liên quan. Cơ quan CSĐT hiện đã nhập kho vật chứng đối với xe mô tô trên.

Thu giữ của Phan Thành N: 01 (một) điện thoại di động loại PoCo X3 Pro (là tài sản cá nhân của Phan Thành N); 01 sim điện thoại có ghi số trên sim 8984048000333806218; 01 sim điện thoại có ghi số trên sim 89840509181125841343; 01 (một) áo khoác ngoài toàn thân màu đen, có hoa tiết chữ “C” sáng màu.

Hiện các vật chứng trên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 đang tạm giữ.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Đông Th đã nhận lại tài sản bị N chiếm đoạt nên đã làm đơn không yêu cầu bồi thường thêm về dân sự và cam kết không thắc mắc khiếu nại gì.

Anh Phạm Văn K là người đã mua lại điện thoại của anh Th từ N, anh Th đã thoả thuận và bồi thường 8.000.000 đồng cho anh K để nhận lại điện thoại, anh K không có yêu cầu gì khác về bồi thường dân sự và làm đơn cam kết không thắc mắc khiếu nại về sau.

Tại bản cáo trạng số 67/CT-VKSQ1 ngày 24 tháng 3 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Phan Thành N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 và tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm đ Khoản 2 Điều 290 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Phan Thành N phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm đ Khoản 2 Điều 290 Bộ luật hình sự năm 2015. Do bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản chiếm đoạt đã bồi thường cho bị hại nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” . Tổng hình phạt chung cho hai tội đối với bị cáo Phan Thành N là 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm tù.

Về vật chứng của vụ án đề nghị: Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 1.500.000 đồng là tiền N bán điện thoại do mình phạm tội mà có. Trả cho N số tiền 987.500 đồng là tiền cá nhân của N không liên quan đến vụ án.

- 01 (một) xe mô tô hiệu Piaggio, loại vespa, biển số 59V1 – 535.51 và giấy đăng ký xe 59V1 – 535.51. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã cho đăng báo Công an Thành phố Hồ Chí Minh để tìm chủ sở hữu hoặc người có liên quan. Do đây là tài sản có được do phạm tội mà có nên hết thời hạn tìm chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đến nhận xe mà không ai đến thì đề nghị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

- 01 (một) điện thoại di động loại PoCo X3 Pro, xét thấy không liên quan đến vụ án nên đề nghị trả lại cho bị cáo;

- 01 (một) áo khoác ngoài màu đen có hoa tiết chữ “C” sáng màu, 01 (một) đôi dép màu đen. Xét thấy không có giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu, tiêu hủy.

- Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Đông Th và anh Phạm Văn K không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo.

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng, không bào chữa, không tranh luận. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội sửa chữa sai lầm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo Phan Thành N tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ đã có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 26/11/2022, tại phòng số 103 khách sạn Hồng Hà, số 2A/9 Nguyễn Thị Minh Khai, phường Đa Kao, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, Phan Thành N có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax của anh Nguyễn Đông Th, trị giá tài sản là 12.600.000 đồng. Sau đó N đã có hành vi truy cập bất hợp pháp vào tài khoản ví điện tử Momo của anh Nguyễn Đông Th dịch chuyển số tiền 50.000.000 đồng trong tài khoản ngân hàng của anh Th về tài khoản Momo của anh Th nhằm mục đích chiếm đoạt, rồi sau đó chiếm đoạt số tiền 44.512.500 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 173 và điểm đ Khoản 2 Điều 290 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại và làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an ninh ở địa phương. Tuy nhiên, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản chiếm đoạt đã bồi thường cho bị hại, phạm tội lần đầu. Đối với hành vi sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản bị cáo phạm tội thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 57 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.

Về xử lý vật chứng: 01 (một) xe mô tô hiệu Piaggio, loại vespa, biển số 59V1-535.51 kèm giấy đăng ký xe 59V1-535.51, SK: 6300CV46972, SM: M665M4049458. Qua xác minh xe mô tô biển số 59V1-535.51 do bà Nguyễn Thị Ngọc M đứng tên chủ sở hữu, bà M khai đã bán xe cho người khác, không làm giấy tờ mua bán nên không rõ tên, địa chỉ người mua xe. N khai xe mô tô biển số 59V1-535.51 do N mua của Phạm Bá Khánh trên trang “Chợ tốt” với giá 12.000.000 đồng bằng tiền bán điện thoại đã trộm cắp được, khi mua có lập giấy mua bán viết tay. Anh Phạm Bá Khánh khai mua xe mô tô biển số 59V1-535.51 của người đàn ông (không rõ lai lịch) với giá 8.000.000 đồng, khi mua không làm giấy tờ mua bán, sau đó anh Khánh đăng bán xe trên trang “Chợ tốt” rồi bán xe mô tô cho Phan Thành N, khi mua bán có làm giấy mua bán viết tay. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã cho đăng báo Công an Thành phố Hồ Chí Minh để tìm chủ sở hữu hoặc người có liên quan. Do đây là tài sản có được do phạm tội mà có nên hết thời hạn tìm chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đến nhận xe mà không ai đến nhận thì cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

- Số tiền 2.487.500 đồng trong đó có 1.500.000 đồng là tiền N bán điện thoại do mình phạm tội mà có đề nghị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước. Còn số tiền 987.500 đồng là tiền cá nhân của N không liên quan đến vụ án, đề nghị trả lại cho N.

- 01 (một) điện thoại di động loại PoCo X3 Pro số Imei 1: 860793055738784, số Imei 2: 860793055738792; 01 (một) sim điện thoại có ghi số trên sim 8984048000333806218; 01 (một) sim điện thoại có ghi số trên sim 89840509181125841343 là tài sản cá nhân của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.

- 01 (một) áo khoác ngoài toàn thân màu đen, có hoa tiết chữ “C” sáng màu không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173, điểm đ Khoản 2 Điều 290, điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 56, Điều 57 của Bộ luật hình sự năm 2015: Tuyên bố bị cáo Phan Thành N phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “ Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt: Bị cáo Phan Thành N 01 (một) năm tù về “Trộm cắp tài sản” và 02 (hai) năm 03 (ba) tháng về tội “ Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung cho hai tội là 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/12/2022.

2. Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015:

- 01 xe mô tô hiệu Piaggio, loại Vespa, biển số 59V1 – 535.51, kèm Giấy đăng ký xe 59V1 – 535.51, SK: 6300CV46972, SM: M665M4049458. Do đây là tài sản có được do phạm tội mà có nên hết thời hạn tìm chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đến nhận xe mà không ai đến thì tịch thu, nộp ngân sách nhà nước

- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 1.500.000 đồng (một triệu, năm trăm nghìn đồng).

- Trả lại cho bị cáo số tiền 987.500 đồng (chín trăm tám mươi bảy nghìn năm trăm đồng)

- Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động loại PoCo X3 Pro số Imei 1: 860793055738784, số Imei 2: 860793055738792; 01 (một) sim điện thoại có ghi số trên sim 8984048000333806218; 01 (một) sim điện thoại có ghi số trên sim 89840509181125841343.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) áo khoác ngoài toàn thân màu đen, có hoa tiết chữ “C” sáng màu.

(Theo phiếu nhập kho vật chứng số 13/2023/PNK-THAHS ngày 10/02/2023 và phiếu nhập kho vật chứng số 21/2023/PNK-THAHS ngày 10/02/2023 của Đội THAHS & HTTP, Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh).

3. Căn cứ vào Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

4. Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

5. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ