- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Đức Vinh phạm tội Tàng trữ hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Cao Đắc V phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2023/HS-ST Ngày 12 - 12 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Khúc Trọng Quang
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Quý Linh – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện K thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thanh Huyền – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 69/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2023/HSST-QĐ ngày 07 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Cao Đắc V, sinh ngày 08 tháng 10 năm 1999, tại Hải Phòng; Nơi đăng ký thường trú: Thôn N, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Đắc B, sinh năm 1969 và bà Cao Thị N, sinh năm 1970; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 16/10/2023, Cao Đắc V sử dụng mạng xã hội Facebook, trao đổi, mua của một người không quen biết 08 hộp pháo hoa nổ với giá 4.000.000 đồng để đốt vào dịp tết Nguyên đán. V thống nhất để tiền ở khu vực lề đường cách nhà anh Vũ Thọ B1, sinh năm 1992, ở thôn Đ, xã N, huyện K khoảng 50m và đặt viên gạch chỉ lên đánh dấu. Sau đó, V mang tiền để đúng vị trí đã thống nhất. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, V quay lại vị trí để tiền, V thấy 01 bao dứa màu trắng buộc kín bên trong là pháo hoa nổ nên xách về thì bị Công an huyện K phát hiện và bắt giữ.
Kết luận giám định số 92 ngày 18/10/2023 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: 08 khối hình hộp đều có kích thước khoảng (15x15x15)cm, bên ngoài mỗi khối bọc giấy nhiều màu sắc và in chữ nước ngoài, mặt trên mỗi khối có 36 lỗ tròn, dưới đáy mỗi khối đều gắn 01 đoạn dây gửi giám định là pháo hoa nổ; khi đốt hoặc kích thích pháo trong các khối bay lên cao liên tiếp, gây ra tiếng rít, tiếng nổ và hiệu ứng sắc màu trong không gian. Tổng khối lượng 12,01kg.
Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 06/QĐ-VKS-KT ngày 24 tháng 11 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện K đã truy tố bị cáo Cao Đắc V phạm tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.
Đối với người bán pháo hoa nổ cho Cao Đắc V, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K chưa xác định được tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minhxử lý sau.
Về vật chứng: 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 15B1 - 411.99, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Vũ Thị Mỹ L, ở thôn N, xã Đ, huyện K.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Cao Đắc V về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung Quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Cao Đắc V từ 12 – 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Tàng trữ hàng cấm”, thời gian thử thách từ 24 – 30 tháng; không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo; về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số pháo còn lại sau giám định; bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
- Ý kiến của bị cáo: Bị cáo Cao Đắc V thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh như Viện kiểm sát nhân dân huyện K đã truy tố là đúng; bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Về tội danh và điều luật Viện kiểm sát nhân dân huyện K truy tố đối với bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Cao Đắc V khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản vụ việc, biên bản xác định hiện trường, vật chứng thu giữ được cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa đã có đủ cơ sở xác định: Khoảng 23 giờ 45 phút ngày 16/10/2023, tại xã N, huyện K, bị cáo Cao Đắc V đã có hành vi tàng trữ 12,01 kg pháo hoa nổ, mục đích để sử dụng. Do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo điềm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự như đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K kết luận tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không vi phạm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và bảo lãnh của gia đình có xác nhận của chính quyền địa phương. Đó là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần xem xét cho bị cáo khi áp dụng hình phạt
Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, tàng trữ hàng cấm, cụ thể ở đây là pháo nổ, gây mất trật tự trị an xã hội và dư luận xấu trong quần chúng nhân dân nên cần xét xử nghiêm, cần thiết xử bị cáo mức án trên khởi điểm của khung hình phạt mới tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo.
Tuy nhiên, xét bị cáo nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội có mức độ, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn ăn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đang được tại ngoại, có nơi cư trú rõ ràng, trong thời gian tại ngoại bị cáo không có vi phạm nào khác đồng thời bị cáo có đơn xin bảo lãnh của gia đình có xác nhận của chính quyền địa phương đề nghị cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội để có cơ hội sửa chữa sai lầm, trở thành người công dân lương thiện. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội, áp dụng Điều 65 bộ luật Hình sự, khoan hồng cho bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo cũng như phòng ngừa chung.
Khoản 4 Điều 191 Bộ luật Hình sự quy định bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng xét bị cáo Cao Đắc V là lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
Về xử lý vật chứng: Vật chứng là số pháo còn lại sau giám định là hàng cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Cao Đắc V phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
Xử phạt bị cáo Cao Đắc V: 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi tư tháng) tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Cao Đắc V cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Huỷ bỏ biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú số 84/2023/QĐ-TA ngày 08 tháng 12 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng đối với bị cáo Cao Đắc V.
Trong trường hợp bị cáo Cao Đắc V thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự như sau:
Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Uỷ ban nhân dân cấp xã; trường hợp không đồng ý thì Uỷ ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.
Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
*Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử:
- Tịch thu tiêu hủy 01 hộp giấy theo niêm phong số 92 CN/PC09 và chữ ký của những người liên quan
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện K, thành phố Hải Phòng).
* Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội, bị cáo Cao Đắc V phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
* Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014.
| Nơi nhận: - VKSND; TAND TP Hải Phòng; - VKSND huyện K; - Công an huyện K; - Phòng PV06; PC10 - Chi cục THADS huyện K; - Sở tư pháp thành phố Hải Phòng; - UBND xã Đ,K; - Bị cáo; - Hồ sơ vụ án; - Lưu VT. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Khúc Trọng Quang |