- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Binh voi Do ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bình.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2023/HNGĐ-ST Ngày: 10 -10 - 2023 “V/v T/c ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Minh Thiết
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Sơn Mứt; Ông Lương Phi Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Huyền Trang – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh tham gia phiên tòa: Thuộc trường hợp không tham gia.
Ngày 10 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 159/2023/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2023, giữa:
- Nguyên đơn: Anh N Q Bình, sinh năm 1978 - xin vắng mặt
Địa chỉ: ấp 2A, xã T, huyện CD, tỉnh Long An;
- Bị đơn: Chị N T Dỡ, sinh năm 1986 - vắng mặt.
Địa chỉ: ấp C, xã DT, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 31 tháng 5 năm 2023 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Bình yêu cầu:
Qua quen biết, anh Bình và chị Dỡ tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 32 ngày 15/5/2013 tại Ủy ban nhân dân xã DT, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Sau khi kết hôn do khó khăn về kinh tế nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống. Hiện nay giữa anh và chị Dỡ không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không còn đạt được nên anh xin ly hôn với chị Dỡ.
Về con chung: Có 01 con chung là N T M Quyên, sinh ngày 10/12/2012. Anh Bình yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Quyên, không yêu cầu chị Dỡ cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Quá trình giải quyết vụ án chị Dỡ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do.
- Nguyên đơn anh Bình có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Xét bị đơn chị Dỡ có nơi trú tại ấp C, xã DT, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long do đó Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long thụ lý và giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình theo thủ tục sơ thẩm được quy định tại khoản 8 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
Ngày 11/9/2023, Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh mở phiên tòa sơ thẩm lần thứ nhất, chị Dỡ đã được tống đạt hợp lệ: Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập xét xử nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do. Tại phiên tòa, chị Dỡ đã được tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do. Tòa án triệp tập xét xử hợp lệ hai lần mà vẫn vắng mặt không rõ lý nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt.
Về nội dung:
Xét về quan hệ hôn nhân:
Anh Bình và chị Dỡ quen biết, tìm hiểu nhau và sau đó được sự đồng ý của hai bên gia đình nên anh chị tiến tới hôn nhân vào năm 2012, sau đó có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã DT, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long) cấp giấy chứng nhận kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 32 ngày 15/5/2013. Tại phiên tòa, anh Bình có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với chị Dỡ. Xét về nguyên nhân mâu thuẫn theo anh Bình cho rằng quá trình chung sống vợ chồng anh chị có thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng về sau thì vợ chồng thường xuyên xảy ra cự cãi, xung đột dẫn đến mâu thuẫn và bất đồng quan điểm trong cuộc sống hằng ngày. Từ đó mà tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt và đã chính thức ly thân nhau từ năm 2020 đến nay không còn sống chung với nhau.
Chị Dỡ không đến Tòa án để trình bày cũng như không có bản khai ý kiến các vấn đề của nguyên đơn yêu cầu vì vậy chị Dỡ phải chịu hậu quả bất lợi theo quy định tại khoảng 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nên việc anh Bình yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với chị Dỡ là có cơ sở xem xét. Vì vậy, Căn cứ Điều 9; khoản 1 Điều 14; Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Bình.
Cho Bình được quyền ly hôn với Dỡ.
[2.2.] Về nuôi con chung: Có 01 con chung tên Quyên, sinh ngày 10/12/2012. Anh Bình yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu Quyên, không yêu cầu chị Dỡ cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, cháu Quyên hiện đang sống với chị Dỡ nên việc anh Bình yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu Quyên là chưa có căn cứ xem xét. Hơn nữa, để tránh làm ảnh hưởng đến việc phát triển bình thường và việc học của trẻ Quyên không chấp nhận yêu cầu nuôi con của anh Bình. Tiếp tục giao cháu Quyên cho chị Dỡ được quyền nuôi dưỡng. Chị Dỡ chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên anh Bình chưa phải cấp dưỡng nuôi con.
Xét về tài sản chung: Anh Bình không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không đặt vấn đề xem xét giải quyết.
Xét về nợ chung: Anh Bình không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không đặt vấn đề xem xét giải quyết.
Về án phí sơ thẩm: Anh Bình phải nộp số tiền 300.000đồng tiền án phí về việc ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000đ đã theo biên lai thu số 0001855, ngày 06/6/2023 của CCTHADS thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ vào Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 1 Điều 51, Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bình.
1/Về hôn nhân: anh Bình được ly hôn với chị Dỡ.
2/Về con chung: Không chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của anh Bình. Tiếp tục giao cháu Quyên cho chị Dỡ được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Chị Dỡ chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên anh Bình chưa phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh Bình được quyền đến thăm mom, chăm sóc con chung, không ai có quyền cản trở.
- Về tài sản chung và nợ chung: Anh Bình không yêu cầu, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
3/Về án phí sơ thẩm: Anh Bình phải nộp số tiền 300.000đồng. Được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng đã nộp tạm ứng theo biên lai thu số 0001855, ngày 06/6/2023 của CCTHADS TX Bình Minh.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4/Quyền kháng cáo: Án xử công khai, anh Nguyễn Quốc Bình và chị Nguyễn Thị Dỡ được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh Vĩnh Long; - Viện kiểm sát thị xã Bình Minh; - CCTHADS thị xã Bình Minh; - Đương sự; - Ủy ban nhân dân xã DT; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trƣơng Minh Thiết |