- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H B Byă về việc yêu cầu giải quyết ly hôn với ông Y Z Êban;
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2023/HNGĐ- ST Ngày 26/4/2023 “V/v: Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT- TỈNH ĐẮK LẮK
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Diễm Hương;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Công Chính;
2. Bà Vi Thị Kiều Chi;
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Ngọc- Chức vụ: Kiểm sát viên;
Ngày 26 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 1062/2022/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 65/2023/QĐST- HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà H B Byă, sinh năm 1994 (Vắng mặt- Có đơn yêu cầu
xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: Buôn T, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk;
Bị đơn: Ông Y Z Êban, sinh năm 1984 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Buôn C, Xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, tại bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, bà H B Byă trình bày có nội dung:
Bà H B Byă và ông Y Z Êban tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2013, tuy nhiên đến năm 2015 vợ chồng mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk;
Vợ chồng có một con chung là cháu H L Byă, sinh ngày 25/12/2014;
Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, cãi vã nhau từ năm 2019. Nguyên nhân chủ yếu là do ông Y Z Êban thường xuyên uống rượu say xỉn và có hành vi đánh đập bà; ông Y Z Êban không lo làm ăn, không có trách nhiệm với gia đình; thường xuyên ghen tuông vô cớ dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã, xô sát nhau. Mặc dù vợ chồng đã cố gắng khắc phục nhưng vẫn không có kết quả. Cuộc sống chung không có hạnh phúc nên ông Y Z Êban đã về nhà mẹ đẻ sinh sống từ năm 2019, vợ chồng sống ly thân từ năm 2019 đến nay;
Đến nay xét thấy vợ chồng không còn tình cảm, không thể quay về để tiếp tục chung sống nên bà H B Byă khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Y Z Êban;
Về con chung: Bà H B Byă có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu cháu H L Byă, sinh ngày 25/12/2014 đến tuổi trưởng thành;
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà H B Byă không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết;
Về tài sản chung: Bà H B Byă xác định vợ chồng không có tài sản chung nên không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết;
Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng cho ông Y Z Êban nhưng ông Y Z Êban vẫn không đến Tòa án giải quyết việc kiện; do đó Tòa án không ghi được lời khai và không tiến hành hòa giải cho các đương sự được.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự:
Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thẩm quyền, thủ tục. Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã thực hiện đầy đủ và đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự;
Về nội dung vụ án:
Xét thấy bà H B Byă và ông Y Z Êban tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, cuộc sống chung không có hạnh phúc nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Nay bà H B Byă có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Y Z Êban là có cơ sở chấp nhận;
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 220; Điều 227; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận đơn khởi kiện của bà H B Byă về việc ly hôn với ông Y Z Êban. Về con chung: Giao con chung H L Byă, sinh ngày 25/12/2014 cho bà H B Byă trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: Không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn bà H B Byă có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Y Z Êban có nơi cư trú tại Buôn C, Xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Về thủ tục tố tụng: Xét thấy nguyên đơn bà H B Byă có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn ông Y Z Êban đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Về quan hệ hôn nhân: Bà H B Byă và ông Y Z Êban tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình duy trì hôn nhân, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, bất đồng. Nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh ngày càng căng thẳng, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay;
Kết quả xác minh tại địa phương thể hiện việc mâu thuẫn vợ chồng bà H B Byă, ông Y Z Êban phát sinh đã lâu và kéo dài đến nay; mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được; do đó cần chấp nhận nguyện vọng ly hôn của bà H B Byă là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Về con chung: Cháu H L Byă, sinh ngày 25/12/2014 hiện đang ở với mẹ và có nguyện vọng được ở với mẹ; do đó cần giao cháu H L Byă cho bà H B Byă trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành;
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà H B Byă không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết;
Ông Y Z Êban có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở;
Về tài sản chung: Bà H B Byă không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết;
Về án phí: Bà H B Byă phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điều 220; Điều 227; Điều 238; Điều 266; Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 51; Điều 56; Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H B Byă về việc yêu cầu giải quyết ly hôn với ông Y Z Êban;
Về quan hệ hôn nhân: Bà H B Byă được ly hôn với ông Y Z Êban;
Về con chung: Giao con chung là cháu H L Byă, sinh ngày 25/12/2014 cho bà H B Byă trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành;
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà H B Byă không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết;
Ông Y Z Êban có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở;
Về tài sản chung: Bà H B Byă không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết;
Về án phí: Bà H B Byă phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí mà bà H B Byă đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0022754 ngày 28 tháng 11 năm 2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
Nguyên đơn bà H B Byă, bị đơn ông Y Z Êban có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND TP. BMT; - UBND xã E, huyện C (Số XXX, ngày 09/02/2015); - Thi hành án dân sự TP. B; - Các đương sự; - Lưu HS; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đỗ Thị Diễm Hương |