vanban.org

Bản án 66/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
HUYỆN TRẢNG BOM
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2023/HNGĐ-ST.
Ngày: 30/5/2023.
V/v: Tranh chấp “Ly hôn, nuôi con ”.

NHAÂN DANH

NÖÔÙC COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM

TOØA AÙN NHAÂN DAÂN HUYỆN TRẢNG BOM

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh.

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đình Quang

2. Ông Đinh Xuân Dậu

- Thö kyù phieân toaø: OÂng Sùng A Tình - Thư ký toøa aùn nhân dân huyện

Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tham gia phiên

tòa: Ông Cao Văn Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1134/2022/TLST - HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/4/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 68/2023/QĐST-HNGĐ ngày 04/5/2023, giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng Tr, sinh năm 1986.

Địa chỉ: 345A, ấp N, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1985.

Địa chỉ: 345A, ấp N, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(Bà Tr có đơn xin vắng mặt; ông T vắng mặt không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình làm việc, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng Tr trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Văn T tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào năm 2017 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống không hòa hợp, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vả nhau. Mặc dù đã cố gắng hòa giải để vợ chồng hàn gắn với nhau nhưng không có kết quả. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà xin ly hôn với ông T để trả tự do cho nhau.

Về con chung: Có 02 cháu tên Nguyễn Đức Tr, sinh ngày 24/9/2018 và Nguyễn Bảo H, sinh ngày 23/3/2021. Ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Tr và cháu H. Tạm thời, bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có.

* Bị đơn ông Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, không có bản tự khai nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông T.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

- Về thủ tục tố tụng: Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, kể từ khi thụ lý vụ án là phù hợp, đúng với quy định của pháp luật. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Xét cuộc sống vợ chồng của bà Tr, ông T không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà Tr yêu cầu ly hôn với ông T là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đức Tr, sinh ngày 24/9/2018 và Nguyễn Bảo H, sinh ngày 23/3/2021 cho bà Nguyễn Thị Hồng Tr trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời, ông Nguyễn Văn T không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Tr phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

* Sau khi nghiên cứu hồ sơ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

Về thẩm quyền: Bà Tr xin ly hôn với ông T có địa chỉ cư trú tại: 345A, ấp N, xã H, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom có thẩm quyền giải quyết.

Về thủ tục tố tụng: Bà Tr có đơn xin xét xử vắng mặt, ông T đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt neân toøa aùn tieán haønh xét xử vắng mặt bà Tr, ông T theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Tr, ông T kết hôn với nhau vào năm 2017 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai, theo giấy chứng nhận kết hôn số: 211 ngày 22/11/2017 nên xác định là hôn nhân hợp pháp.

Bà Tr trình bày: Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống không hòa hợp, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vả nhau. Mặc dù đã cố gắng hòa giải để vợ chồng hàn gắn với nhau nhưng không có kết quả. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà xin ly hôn với ông T để trả tự do cho nhau.

Tòa án đã nhiều lần tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập ông T đến Tòa làm việc nhưng ông T vẫn vắng mặt không lý do, không có ý kiến phản hồi thể hiện việc ông T không tích cực trong việc hòa giải, hàn gắn quan hệ vợ chồng, không mong muốn tiếp tục duy trì cuộc sống hôn nhân với bà Tr. Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng mâu thuẫn vợ chồng của ông T, bà Tr tại nơi cư trú nhưng địa phương không nắm do hai bên không trình báo địa phương.

Xét thấy, mâu thuẫn giữa vợ chồng ông T, bà Tr là có thật, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phượng, giải quyết cho bà Tr được ly hôn với ông T để trả tự do cả hai là phù hợp.

- Về con chung: Bà Tr yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm cháu Nguyễn Đức Tr, sinh ngày 24/9/2018 và Nguyễn Bảo H, sinh ngày 23/3/2021 . Tạm thời, bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét thấy, ông T không đến Tòa làm việc nên không ghi nhận được ý kiến của ông T. Cháu Tr và cháu H còn nhỏ, cần có sự chăm sóc của người mẹ để không ảnh hưởng đến tâm sinh lý, điều kiện phát triển của các cháu. Do đó chấp nhận yêu cầu nuôi con của bà Tr; giao cháu Tr và cháu H cho bà Tr trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời, ông T không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Tr không yêu cầu.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Tr khai không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và do chưa có lời khai của ông T nên không đặt ra xem xét giải quyết.

- Về án phí: Bà Tr phải nộp 300.000ñ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tại phiên tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYEÁT ÑÒNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 227, 228, 233, 235, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84, 110 Luật hôn nhân và gia đình.

Aùp duïng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu “Ly hôn, nuôi con” của bà Nguyễn Thị Hồng Tr.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng Tr được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đức Tr, sinh ngày 24/9/2018 và Nguyễn Bảo H, sinh ngày 23/3/2021 cho bà Nguyễn Thị Hồng Tr trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời, ông Nguyễn Văn Tg không cấp dưỡng nuôi con.

Vì không trực tiếp chăm sóc, giáo dục con chung nên ông T được quyền thăm nom con không ai được cản trở. Vì quyền lợi của trẻ, khi cần thiết ông bà có quyền yêu cầu thay đổi vị trí nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Hồng Tr phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom theo biên lai thu số 0001925 ngày 02/11/2022.

5. Bà Nguyễn Thị Hồng Tr và ông Nguyễn Văn T vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ