vanban.org

Bản án 66/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: cho Ly hôn giữa chị Tòng Thị H và anh Tòng Văn T.

Về con chung: Giao cháu Tòng Thị Kim A cho chị Tòng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi đủ tuổi thành niên (18 tuổi) và có khả năng lao động; không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung; không ai được ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thăm nom con sau ly hôn. Về án phí: chị Tòng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: cho Ly hôn giữa chị Tòng Thị H và anh Tòng Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN M, TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2023/HNGĐ-ST
Ngày 12 - 7 - 2023
V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hòa; Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Khẹt và bà Nguyễn Thị Hương.

- Thư ký phiên toà: Ông Đào Ngọc Sơn, Thư ký Toà án nhân dân huyện M.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M tham gia phiên toà: Ông Lường Văn Hoan - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện M, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 88/2023/TLST- HNGĐ, ngày 04 tháng 5 năm 2023 về Tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Tòng Thị H; Nơi cư trú: bản Huổi Choi, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; có mặt.

- Bị đơn: anh Tòng Văn T; Nơi cư trú: bản Huổi Choi, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 26/4/2023 và bản tự khai, nguyên đơn là chị Tòng Thị H trình bày: chị H và anh T, tự nguyện chung sống với nhau có đăng ký kết hôn ngày 07/12/2015 tại Uỷ ban nhân dân xã H; quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, anh chị đã có một người con chung là cháu Tòng Thị Kim A, sinh ngày 08/4/2016 và hiện tại chị không có thai; tháng 12/2017 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không quan tâm đến cuộc sống gia đình, từ đó đã sống ly thân, nay tình cảm không còn chị H xin được ly hôn, phân chia trách nhiệm nuôi con chung là cháu Tòng Thị Kim A; về tài sản chung chị H và anh T không yêu cầu giải quyết; anh chị không vay nợ ai.

Tại bản tự khai anh Tòng Văn T trình bày: anh T và chị H chung sống với nhau có đăng ký kết hôn từ năm 2015, đã có một người con chung là cháu Tòng Thị Kim A, sinh ngày 08/4/2016; cuộc sống chung vợ chồng không hoà hợp thường xuyên mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, không quan tâm tới gia đình và sống ly thân từ đó. Nay chị H yêu cầu ly anh T nhất trí ly hôn và do đang đi làm ăn, công việc chưa ổn định anh đề nghị giao con chung là cháu Anh cho chị H nuôi dưỡng chăm sóc; tài sản chung không yêu cầu giải quyết; quá trình chung sống không vay nợ của ai. Anh Tòng Văn T đề nghị giải quyết vắng mặt.

Tại biên bản lấy ý kiến ngày 14/6/2023 cháu Tòng Thị Kim A có nguyện vọng xin ở với chị Hỏa.

Tại phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 26/6/2023 chị Tòng Thị H giữ nguyên yêu cầu, phạm vi khởi kiện, không có yêu cầu phản tố, không ai cung cấp tài liệu chứng cứ, yêu cầu gì khác. Tuy nhiên, anh T không có mặt nên chị H có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên Toà án đã lập biên bản không hoà giải được.

Ý kiến tranh luận tại phiên tòa: Nguyên đơn chị Tòng Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn anh Tòng Văn T và phân chia trách nhiệm nuôi con chung, theo nguyện vọng chị H xin trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung; không đề nghị cấp dưỡng nuôi con chung; chị H xin tự chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Bị đơn anh Tòng Văn T đề nghị xét xử vắng mặt nên không có ý kiến tranh luận đối đáp.

Đại diện Viện kiểm sát ý kiến: Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật, bị đơn xin vắng mặt nên áp dụng khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt. Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuyên chấp nhận cho chị Tòng Thị H ly hôn với anh Tòng Văn T; giao cháu Tòng Thị Kim A cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung; buộc chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Theo đơn khởi kiện và yêu cầu tại phiên tòa Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn” do nguyên đơn chị Tòng Thị H khởi kiện đối với bị đơn anh Tòng Văn T có nơi cư trú bản Huổi Choi, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La.

Về thủ tục tố tụng: anh Tòng Văn T đã có ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh T.

Về quan hệ hôn nhân:

Chị Tòng Thị H và anh Tòng Văn T, tự nguyện chung sống với nhau có đăng ký kết hôn ngày 07/12/2015 tại Uỷ ban nhân dân xã Hua Trai là sự thật và quan hệ hôn nhân được xác lập hợp pháp.

Xét yêu cầu ly hôn của chị H thấy: cuộc sống chung giữa chị H và anh T có mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, cùng không có trách nhiệm với gia đình, anh chị đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay nên xác định lời khai trình bày về nguyên nhân, lý do mâu thuẫn và yêu cầu ly hôn của chị H là sự thật, có căn cứ phù hợp với ý kiến của anh T cũng như xác nhận của UBND xã C về nguyên nhân mâu thuẫn và đã hoà giải đoàn tụ tại cơ sở xã nhưng không thành. Tại bản tự khai anh T có ý kiến là nhất trí ly hôn nhưng lại vắng mặt tại phiên toà nên không đủ cơ sở để công nhận thuận tình ly hôn. Xét tình cảm vợ chồng giữa chị H và anh T thực sự không còn, quyền bình đẳng trong gia đình bị hạn chế, tình nghĩa vợ chồng không bảo đảm, đời sống chung vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đồng thời cũng giải phóng cho anh chị để ổn định cuộc sống về sau cần chấp nhận yêu cầu giải quyết cho chị Tòng Thị H được ly hôn anh Tòng Văn T; căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung, cấp dưỡng nuôi con chung: chị Tòng Thị H và anh Tòng Văn T, xác định anh chị có một người con chung là cháu Tòng Thị Kim A, sinh ngày 08/4/2016, hiện tại chị H không có thai, chị H có nguyện vọng được nuôi con chung, không đề nghị cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy cháu Tòng Thị Kim A là người chưa thành niên (dưới 18 tuổi) trong khi quan hệ chung sống giữa chị H và anh T không thể tồn tại nên cần xem xét phân chia trách nhiệm nuôi con chung. Xuất phát từ lợi ích mọi mặt của cháu Tòng Thị Kim A thấy anh T và chị H đều là lao động tự do thu nhập không ổn định, từ khi sống ly thân đến nay chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Anh và đang sống ổn định có điều kiện phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức và anh T cũng đề nghị giao con chung cho chị H nuôi, theo nguyện vọng cháu Anh xin ở với mẹ. Do đó, chấp nhận yêu cầu của chị H và giao con chung là cháu Tòng Thị Kim A cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi đủ tuổi thành niên (18 tuổi) và có khả năng lao động; việc không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung của chị H là tự nguyện nên không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung; không ai được ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thăm nom con sau ly hôn, căn cứ vào các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về tài sản chung: chị H và anh T tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết theo vụ án.

Về vay nợ chung: chị H và anh T xác định không vay nợ của ai.

Về án phí: chị Tòng Thị H là người dân tộc thiểu số nhưng không đủ điều kiện để được miễn án phí nên phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 300.000VNĐ; căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điểu 51, khoản 1 Điểu 56, các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Về quan hệ hôn nhân: cho Ly hôn giữa chị Tòng Thị H và anh Tòng Văn T.

2. Về con chung: Giao cháu Tòng Thị Kim A cho chị Tòng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi đủ tuổi thành niên (18 tuổi) và có khả năng lao động; không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung; không ai được ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thăm nom con sau ly hôn.

4. Về án phí: chị Tòng Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000VNĐ (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp là 300.000VNĐ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2021/0003837 ngày 04/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, tỉnh Sơn La.

Đương sự chị Tòng Thị H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 12/7/2023; anh Tòng Văn T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận, niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoạc bị cưỡng chế theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ