- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị Thu N - Đỗ Tấn D"
- Tòa quyết gì? 1/- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thu N;
- Căn cứ chính? Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU Bản án số: 66/2023/HNGĐ-ST. Ngày 20/7/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN - TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU.
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Nghĩa.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Hồng Sơn và bà Nguyễn Thị Di.
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Điền.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền tham gia phiên tòa: ông Vũ Văn Long - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 7 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Long Điền, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 128/2023/TLST-HNGĐ ngày 21/4/2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2023/ QĐST-HNGĐ ngày 07/6/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2023/QĐST-HNGĐ ngày 27/6/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thu N, sinh năm: 2001. (Vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt).
Địa chỉ : Tổ A, khu phố K, phường K, thành phố B, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
- Bị đơn: Ông Đỗ Tấn D, sinh năm: 1998. (Vắng mặt).
Địa chỉ : Số nhà B, ấp A, xã A, huyện L, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và các lời khai tại tòa án, bà Phạm Thu N có yêu cầu như sau:
Bà Phạm Thu N và ông Đỗ Tấn D chung sống với nhau từ năm 2019, có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng ý kiến, xảy ra cãi vả nhiều lần, đã ly thân từ tháng 11 năm 2020 đến nay.
Nay bà N yêu cầu được ly hôn đối với ông D.
- Về con chung: Bà N và ông D có một con chung là Đỗ Tuấn K, sinh ngày 05/3/2020, đang ở với ông D. Bà N chấp nhận để cho ông D được nuôi dưỡng con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà N không tranh chấp về tài sản chung với ông D; Về nợ chung: Bà N và ông D không có nợ chung.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền phát biểu ý kiến:
Về thủ tục xét xử vụ án: Bà Phạm Thu N tuân thủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, vắng mặt nhưng có yêu cầu xét xử vắng mặt, ông Đỗ Tấn D không chấp hành quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, vắng mặt hai lần không có lý do, đề nghị TAND huyện Long Điền xét xử vắng mặt bà N và ông D.
Về nội dung vụ án, đại diện VKSND huyện Long Điền đề nghị TAND huyện Long Điền chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N, giao em Đỗ Tuấn K cho ông D trực tiếp nuôi dưỡng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp ly hôn. Về thẩm quyền giải quyết vụ án, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Long Điền.
Về thủ tục xét xử vụ án: TAND huyện Long Điền đã triệu tập hợp lệ, bà Phạm Thu N vắng mặt, nhưng có yêu cầu xét xử vắng mặt, ông Đỗ Tấn D vắng mặt hai lần không có lý do (Tại phiên tòa vào ngày 27/6/2023 và tại phiên tòa hôm nay) . Theo quy định tại điều 227 bộ luật tố tụng dân sự, TAND huyện Long Điền xét xử vắng mặt ông Đỗ Tấn D và bà Phạm Thu N.
Về nội dung vụ án, xét thấy: Bà Phạm Thu N và ông Đỗ Tấn D tự nguyện sống chung với nhau từ năm 2019, có đăng ký kết hôn. Qua lời trình bày của bà Phạm Thu N và kết quả xác minh cho thấy: Trong thời gian chung sống, kể từ năm 2020, bà Phạm Thu N và ông Đỗ Tấn D có mâu thuẩn do nhiều lần bất đồng ý kiến, xảy ra cãi vả. Từ những mâu thuẫn kể trên, bà Phạm Thu N và ông Đỗ Tấn D đã ly thân từ năm 2020 đến nay.
Xét thấy mâu thuẫn giữa bà Phạm Thu N và ông Đỗ Tấn D là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, nên chấp nhận ,m m yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thu N.
Về con chung:
Bà Phạm Thu N và ông Đỗ Tấn D có con chung là Đỗ Tuấn K, sinh ngày 05/3/2020, được ông Đỗ Tuấn K nuôi dưỡng.
Khi bà Phạm Thu N và ông Đỗ Tấn D ly thân thì em Đỗ Tuấn K được ông Đỗ Tấn D nuôi dưỡng, nên giao cho ông Đỗ Tấn D tiếp tục nuôi dưỡng con là phù hợp với thực tế, đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của con. Tạm thời, ông Đỗ Tấn D không yêu cầu bà Phạm Thu N cấp dưỡng nuôi con đối với em Đỗ Tuấn K, nên không xét đến.
Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết, bà Phạm Thu N và ông Đỗ Tấn D có thể yêu cầu Tòa án giải quyết về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: bà Phạm Thu N và ông Đỗ Tấn D không có tranh chấp tài sản chung và nợ chung nên không xét đến.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 56, 81, 82, 84, điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình, điều 27 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí tòa án:
1/- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thu N;
Bà Phạm Thu N được ly hôn đối với ông Đỗ Tấn D.
2/- Về con chung:
Giao em Đỗ Tuấn K, sinh ngày 05/3/2020 cho ông Đỗ Tấn D trực tiếp nuôi dưỡng;
Tạm thời, ông Đỗ Tấn D không yêu cầu bà Phạm Thu N cấp dưỡng nuôi con đối với em Đỗ Tuấn K;
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con;
Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết bà Phạm Thu N và ông Đỗ Tấn D có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con.
3/- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Phạm Thu N và ông Đỗ Tấn D không có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung.
4/- Về án phí:
- Bà Phạm Thu N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000896 ngày 14/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền; Bà Phạm Thu N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Ông Đỗ Tấn D không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
5/- Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. * Nơi nhận:
| -TAND Tỉnh BRVT; - VKSND tỉnh BRVT; - VKSND H. Long Điền; - Chi cuc THADS H.Long Điền -UBND xã Hòa Long. - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Hữu Nghĩa |