vanban.org

Bản án 66/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Bà Ka H và ông K’ M được ly hôn.

Về con chung: Giao con chung tên Ka L, sinh ngày 15-10-2013 cho bà Ka H trực tiếp nuôi dưỡng. Ông K’ M không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; không ai được ngăn cản. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ka Hem - K Mis"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Ka H và ông K’ M được ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DI LINH
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2023/HNGĐ-ST.
Ngày: 23-8-2023.
V/v: Xin ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH - TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đới Văn Học.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Chung;

Ông Đào Duy Trâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Giáp Thị Thu Ly – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh tham gia phiên tòa: Ông K’ Dem – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 111/2023/TLST- HNGĐ ngày 28-3-2023 về việc: “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20-7-2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 41/2023/QĐST-DS ngày 11-8-2023; giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Ka H; sinh năm 1993. Địa chỉ: Số 160 thôn Đ, xã T, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.

Bị đơn: Ông K’ M; sinh năm 1988. Địa chỉ: Số 19 thôn Đ, xã T, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.

Bà H vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt; ông M vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai, bà Ka H trình bày: Bà và ông K’ M tự nguyện đăng ký kết hôn cuối năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã Tân Nghĩa. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng sống không hợp nhau. Từ đó đến nay đã sống ly thân. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Ka L, sinh ngày 15-10-2013, hiện đang sống với bà. Khi ly hôn, bà xin trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông K’ M phải cấp dưỡng nuôi con

Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung; tài sản cho vay chung và tài sản nợ chung không có. Khi ly hôn không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.

Trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, ông K’ M đều vắng mặt nên không có lời trình bày.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, 53, 56, 81, 82 và Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử cho bà Ka H được ly hôn ông K’ M; Giao con chung tên Ka L, sinh ngày 15-10-2013 cho bà Ka H trực tiếp nuôi dưỡng, ông K’ M không phải cấp dưỡng nuôi con; Bà Ka H chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu và xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa hôm nay và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tại phiên tòa hôm nay, bà Ka H là nguyên đơn vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt; ông K’ M là bị đơn vắng mặt mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Ka H và ông K’ M tự nguyện đăng ký kết hôn cuối năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã Tân Nghĩa. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng sống không hợp nhau. Từ đó đến nay đã sống ly thân. Bà Ka H xác định hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Ông K’ M không đến Tòa lần nào nên không có lời trình bày về nội dung này. Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Ka H và ông K’ M đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà Ka H cương quyết xin ly hôn. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Xử cho bà Ka H và ông K’ M được ly hôn là phù hợp.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Ka L, sinh ngày 15-10-2013, hiện đang sống với bà Ka H. Khi ly hôn bà Ka H xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông K’ M phải cấp dưỡng nuôi con; ông K’ M không đến Tòa nên không có lời trình bày về nội dung này; cháu Ka L có nguyện vọng muốn sống với mẹ. Xét quyền lợi mọi mặt của con, khả năng nuôi dưỡng con của các bên và để ổn định cuộc sống cho con. Căn cứ Điều 81, 82, 83, 84 và 116 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Chấp nhận yêu cầu của bà Ka H, giao con chung Ka L, sinh ngày 15-10-2013 cho bà Ka H trực tiếp nuôi dưỡng; ông K’ M không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung là phù hợp.

Về tài sản: Bà Ka H và ông K’ M đều trình bày vợ chồng không có tài sản chung; tài sản cho vay chung và nợ chung không có, khi ly hôn không yêu cầu giải quyết về tài sản; ông K’ M không đến Tòa nên không có lời trình bày về nội dung này nên không đề cập giải quyết về tài sản là phù hợp.

Về án phí: Căn cứ Điều 144; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bà Ka H phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 144; Điều 147; khoản 1, khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 và Điều 116 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1) Về quan hệ hôn nhân: Bà Ka H và ông K’ M được ly hôn.

2) Về con chung: Giao con chung tên Ka L, sinh ngày 15-10-2013 cho bà Ka H trực tiếp nuôi dưỡng.

Ông K’ M không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; không ai được ngăn cản.

Viêc thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con được thực hiện theo quy định của pháp luật.

3) Về án phí: Bà Ka H chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0013908 ngày 28-3-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Di Linh.(bà H đã nộp đủ án phí).

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay, các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Người vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ