- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc — án hôn nhân và gia đình — ""Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" giữa bà Võ Thị Hồng N và ông Nguyễn Văn Ú"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Võ Thị Hồng N và ông Nguyễn Văn Ú.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2023/HNGĐ-ST Ngày: 09 - 6 - 2023 V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Minh Tân.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Văn Hùng.
2. Ông Trần Văn Bé Hai.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình: Không tham gia phiên toà.
Ngày 09 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 115/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2023 về “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 46/2023/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Hồng N, sinh năm 1973 (Có mặt).
Địa chỉ: Ấp Đ, xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Ú, sinh năm 1974 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp Đ, xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 23 tháng 02 năm 2023 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Võ Thị Hồng N trình bày:
- Về hôn nhân: Trên cơ sở quen biết, được sự đồng ý của gia đình, bà và ông Nguyễn Văn Ú tổ chức lễ cưới năm 1992 và đăng ký kết hôn ngày 31/12/2002 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long. Thời gian vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 19 năm, đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông Ú không chí thú làm ăn, thường xuyên uống rượu và hay ghen tuông vô cớ, khi bà khuyên ngăn thì ông Ú lớn tiếng cự cải, dẫn đến vợ chồng mất hạnh phúc. Nên bà và ông Ú sống ly thân từ tháng 01/2022 đến nay không trở về đoàn tụ. Sau thời gian sống ly thân, nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà yêu cầu được ly hôn với ông Ú.
- Về con chung, nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: Bà và ông Ú có với nhau 03 người con chung tên Nguyễn Thị Thanh T, sinh ngày 03/7/1993, Nguyễn Quốc D, sinh ngày 09/10/1997, Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 28/6/2005. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi cháu H, không yêu cầu ông Ú cấp dưỡng. Riêng cháu T và cháu D đã thành niên, không bị nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần, đã tự lao động nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm:
Ông Nguyễn Văn Ú đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng đều vắng mặt tại các phiên họp, không giao nộp văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà N và không giao nộp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Ú đã được triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xác định đây là yêu cầu về ly hôn và tranh chấp về nuôi con, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Tam Bình.
Về thủ tục xét xử: Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Ú đã được triệu tập xét xử hợp lệ lần hai vắng mặt không có lý do vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông Ú theo thủ tục chung.
- Về nội dung:
Về hôn nhân: Bà Nguyệt, ông Ú là vợ chồng hợp pháp, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Xuất phát từ nguyên nhân mâu thuẫn về kinh tế, ông Ú không chí thú làm ăn, thường xuyên uống rượu và hay ghen tuông vô cớ, khi bà N khuyên ngăn thì ông Ú lớn tiếng cự cải, dẫn đến mất hạnh phúc. Bà N1, ông Ú có thời gian sống ly thân từ tháng 01/2022 đến nay không trở về đoàn tụ. Tại phiên tòa sơ thẩm, bà N1 xác định không còn tình cảm vợ chồng, không muốn ý tiếp tục chung sống với ông Ú. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Ú không có văn bản trình bày ý kiến phản đối hoặc đề nghị giải quyết đối với yêu cầu ly hôn của bà N1. Căn cứ vào lời trình bày của bà N1 và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết luận hôn nhân giữa bà N1 và ông Ú đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án giải quyết cho ly hôn giữa bà N1 và ông Ú.
Về con chung, nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: Bà N1 và ông Ú có với nhau 03 người con chung là cháu T, cháu D đều đã thành niên không bị nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần, đã tự lao động nuôi sống bản thân, cháu H đã trên 17 tuổi. Bà N1 không tranh chấp yêu cầu giải quyết về quyền nuôi con và cấp dưỡng cho con đối với cháu L, cháu N2 nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Xét cháu H hiện bà N1 đang nuôi dưỡng, nguyện vọng của cháu là sau khi cha mẹ ly hôn muốn được tiếp tục sống với bà N1. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Ú không có văn bản trình bày ý kiến phản đối hoặc đề nghị giải quyết đối với yêu cầu tranh chấp về nuôi con của bà N1. Để ổn định môi trường sống, học tập, quyền lợi về mọi mặt và nguyện vọng của cháu H. Căn cứ vào khoản 1 và khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án giải quyết giao cháu H cho bà N1 được trực tiếp nuôi dưỡng; ghi nhận ý kiến của bà N1 không yêu cầu ông Ú cấp dưỡng cho cháu H; ông Ú có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung là cháu H không ai được cản trở.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Do không có yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, kèm theo danh mục án phí, lệ phí Toà án, Tòa án giải quyết bà N1 phải chịu án phí giải quyết ly hôn số tiền 300.000 đồng và được khấu trừ xong vào trong số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 1 và khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, kèm theo danh mục án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Võ Thị Hồng N và ông Nguyễn Văn Ú.
2. Về con chung, nuôi con và cấp dưỡng cho con:
2.1. Giao cháu Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 28 tháng 6 năm 2005 cho bà Võ Thị Hồng N được trực tiếp nuôi dưỡng.
2.2. Ghi nhận ý kiến của bà Võ Thị Hồng N không yêu cầu ông Nguyễn Văn Ú cấp dưỡng cho con.
2.3. Ông Nguyễn Văn Ú có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Võ Thị Hồng N phải nộp án phí ly hôn số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Số tiền này được khấu trừ xong vào trong số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí bà N đã nộp theo biên lai thu số No 0011290 ngày 09 tháng 3 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Vụ án được xét xử công khai. Có mặt bà Võ Thị Hồng N, vắng mặt ông Nguyễn Văn Ú. Báo cho bà N có mặt biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để Tòa án cấp trên xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Riêng ông Ú vắng mặt thì thời hạn trên được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long: 02; - VKSND huyện Tam Bình: 02; - Chi cục THADS huyện Tam Bình: 01; - NĐ + BĐ: 02; - UBND xã Ngãi Tứ: 01; - Lưu hồ sơ vụ án: 01; - Lưu án văn: 06. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Cao Minh Tân |