- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thiện Tr.
- Căn cứ chính? Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2023/HNGĐ-ST Ngày: 17-02-2023 V/v tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Minh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nghiêm Thị Xuân Huê
Ông Nguyễn Chí Minh
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thế Vinh – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Lệ Thủy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 03/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2023 về việc “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 01 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thiện Tr, sinh năm 1974; Địa chỉ: Số 3/6 đường P, phường L, Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh
Bị đơn: Ông Nguyễn G, sinh năm 1971; Địa chỉ: Số 1/7 đường N, phường B, Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện đề ngày 11 tháng 01 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Trần Thiện Tr đều trình bày: Ngày 16 tháng 01 năm 2019, bà và ông Nguyễn G ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 21/2019/QĐST-HNGĐ của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, hai bên tự thỏa thuận việc nuôi con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trong suốt thời gian từ sau ly hôn đến nay, bà đã đưa hai con chung là Nguyễn Trần Thiện A, sinh ngày 28 tháng 12 năm 2004 và Nguyễn Trần Thiện M, sinh ngày 13 tháng 4 năm 2010 đi du học. Hiện nay, hai con chung Nguyễn Trần Thiện A đã trưởng thành, còn Nguyễn Trần Thiện M còn nhỏ tuổi, các thủ tục xin visa, du học, di chuyển bằng đường hàng không… đều yêu cầu có đầy đủ chữ ký của bà và ông Nguyễn G nhưng bà không liên lạc được với ông Nguyễn G. Do đó, để thuận lợi cho việc học tập của con, bà yêu cầu Tòa án giao con chung Nguyễn Trần Thiện M, sinh ngày 13 tháng 4 năm 2010 cho bà trực tiếp nuôi và bà không yêu cầu ông Nguyễn G cấp dưỡng cho con. Ông Nguyễn G là bị đơn trình bày: Ngày 16 tháng 01 năm 2019, ông và bà Trần Thiện Tr đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 21/2019/QĐST-HNGĐ của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến ngày 28 tháng 10 năm 2019, ông đi thi hành án phạt tù tại trại giam Xuyên Mộc theo bản án tuyên 12 năm tù. Từ sau khi ly hôn đến nay, hai con chung là Nguyễn Trần Thiện A, sinh ngày 28 tháng 12 năm 2004 và Nguyễn Trần Thiện M, sinh ngày 13 tháng 4 năm 2010 do bà Trần Thiện Tr trực tiếp nuôi. Nay con lớn Nguyễn Trần Thiện A đã trưởng thành, còn bản thân ông hiện đang thi hành án phạt tù nên không thể trực tiếp nuôi con. Ông đồng ý giao con nhỏ Nguyễn Trần Thiện M cho bà Trần Thiện Tr trực tiếp nuôi. Bà Trần Thiện Tr không yêu cầu cấp dưỡng cho con thì ông cũng đồng ý. Ông đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt ông trong suốt quá trình tố tụng. Tại phiên tòa sơ thẩm, bà Trần Thiện Tr và ông Nguyễn G vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng quy định pháp luật và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Bà Trần Thiện Tr khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn với ông Nguyễn G hiện đang chấp hành án tại Tổ 2, phân trại Số 2, Trại giam Xuyên Mộc, có nơi cư trú cuối cùng tại Số 1/7 đường N, phường B, Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. [2] Bà Trần Thiện Tr và ông Nguyễn G vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. [3] Theo quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc. [4] Về nội dung vụ án: Bà Trần Thiện Tr và ông Nguyễn G đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 21/2019/QĐST-HNGĐ của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, hai bên tự thỏa thuận việc nuôi con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. [5] Theo Trích lục khai sinh số 751/TLKS-BS và số 755/TLKS-BS ngày 24 tháng 12 năm 2018 của Ủy ban nhân dân phường L, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh thì hai con chung là Nguyễn Trần Thiện A, sinh ngày 28 tháng 12 năm 2004 đã thành niên, còn Nguyễn Trần Thiện M, sinh ngày 13 tháng 4 năm 2010 trình bày tại Đơn trình bày nguyện vọng của con đề ngày 18 tháng 01 năm 2023: “Con là con của ba G và mẹ Tr. Kể từ năm 2018 đến nay, con đang sống cùng mẹ Tr, ba G không còn ở chung nhà với con. Nếu trường hợp sau này ba mẹ con không ở chung với nhau nữa, nguyện vọng của con là được ở chung với mẹ Tr”.
Theo Bản tự khai đề ngày 16 tháng 01 năm 2023 của bà Trần Thiện Tr và Bản khai ngày 18 tháng 01 năm 2023 của ông Nguyễn G thì cả hai đều thừa nhận từ sau khi ly hôn đến nay, hai con chung đều do bà Trần Thiện Tr trực tiếp nuôi, ông Nguyễn G hiện đang chấp hành án phạt tù 12 năm tại trại giam Xuyên Mộc; đồng thời, ông Nguyễn G cũng đồng ý giao con chung Nguyễn Trần Thiện M cho bà Trần Thiện Tr trực tiếp nuôi và bà Trần Thiện Tr không yêu cầu ông Nguyễn G cấp dưỡng cho con.
Căn cứ quy định tại khoản 1, điểm a khoản 2 và khoản 3 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, sau khi xem xét quyền lợi về mọi mặt của con, nguyện vọng của cha, mẹ và con, cần giao con chung Nguyễn Trần Thiện M cho bà Trần Thiện Tr trực tiếp nuôi.
Không ai được quyền cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì quyền lợi của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi mức cấp dưỡng hoặc người trực tiếp nuôi con.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Thiện Tr không yêu cầu ông Nguyễn G cấp dưỡng cho con.
Về án phí: Ông Nguyễn G phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuy nhiên, theo Đơn đề nghị đề ngày 19 tháng 01 năm 2023, bà Trần Thiện Tr tự nguyện chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm thay ông Nguyễn G vì hiện ông Nguyễn G đang chấp hành án phạt tù, không có điều kiện nộp tiền án phí, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này của bà Trần Thiện Tr.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các điều 81, 82, 83 và khoản 1, điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thiện Tr.
Giao con chung Nguyễn Trần Thiện M, sinh ngày 13 tháng 4 năm 2010 cho bà Trần Thiện Tr trực tiếp nuôi.
Không ai được quyền cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì quyền lợi của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi mức cấp dưỡng hoặc người trực tiếp nuôi con. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Thiện Tr không yêu cầu ông Nguyễn G cấp dưỡng cho con. 2. Về án phí: Bà Trần Thiện Tr tự nguyện chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số AA/2022/001xxxx ngày 11 tháng 01 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Trần Thiện Tr đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. 3. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - UBND phường L, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Các Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thúy Minh Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thúy Minh |