vanban.org

Bản án 66/2023/DS-ST — Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng hoản 3 Điều 100; hoản 2 Điều 106, Điều 195 uật Đất đai năm 2013.

Chấp nhận êu cầu khởi kiện của ngu ên đơn Mai Thị V về việc “Tranh chấp chia di sản thừa kế quyền sử dụng đất” đối với bị đơn Mai Thị D . Chấp nhận một phần êu cầu phản tố của bị đơn Mai Thị D về việc “Tranh chấp chia di sản thừa kế quyền sử dụng đất” đối với ngu ên đơn Mai Thị V và người có qu ền l…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất — án dân sự — "Mai Thi Ven tranh chap “Tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất” voi Mai Thi Don"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng hoản 3 Điều 100; hoản 2 Điều 106, Điều 195 uật Đất đai năm 2013.
  • Căn cứ chính? Quyết định số 74/2019/QĐ-UBND Ban hành bảng giá các loại đất…; Điều 660 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2023/DS-ST
Ngày: 08-6-2023
“V/v: Tranh chấp chia thừa kế”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngu n h c inh Du

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Đổi;

2. Ông Ngu n Chí in;

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngu n Thị im Th m - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân hu ện Đức Hòa, tỉnh ong An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Quý – iểm sát viên.

Trong ngày 31 tháng 5 năm 2023 và ngà 08 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân hu ện Đức Hòa, tỉnh ong An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 240/2022/T ST-DS ngà 08/4/2022 về việc “Tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất” theo Qu ết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2023/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 5 năm 2023 và Qu ết định hoãn phiên tòa số 64/2023/QĐST-DS ngày 09/5/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Mai Thị V , sinh năm 1964.

Địa chỉ: Số 162 Ấp T, xã H, hu ện Đ, tỉnh .

- Bị đơn: Bà Mai Thị D , sinh năm 1970.

Địa chỉ: Ấp , xã H, hu ện Đ, tỉnh .

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Người kế thừa qu ền và nghĩa vụ tố tụng của bà Mai Thị V (chết ngà 05/12/2018): Chị Ngu n Thị Hồng T , sinh năm 2009;

Người đại diện hợp pháp của chị T : Ông Ngu n Phúc T , sinh năm 1973. Cùng địa chỉ: Ấp T, xã H, hu ện Đ, tỉnh .

Người đại diện theo ủ qu ền của ông Ngu n Phúc T: Ông Ngu n Ngọc Phúc, sinh năm: 1969. Địa chỉ: Ấp Bình Thủ , xã Hòa hánh Đông, hu ện Đức Hòa, tỉnh ong An (Theo văn bản ủ qu ền chứng thực số 16/2023, qu ển số 01/2023 ngà 05/5/2023 của UBND xã Hòa hánh Tâ ).

2. Ông Ngu n Phúc T, sinh năm 1973. Địa chỉ: Ấp T, xã H, hu ện Đ, tỉnh L.

3. Ông Trần Văn H, sinh năm: 1971. Địa chỉ: Ấp , xã H, hu ện Đ, tỉnh .

( Bà V, bà D, ông P, chị T , ông H có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Mai Thị V khởi kiện và trình bày: Cha, mẹ của bà Mai Thị V là ông Mai Văn N (chết ngà 16/01/1977) và bà Ngu n Thị (chết ngà 22/3/2009). Ông N và bà K có 03 người con gồm: Mai Thị V, Mai Thị D và Mai Thị V (chết năm 2018), ngoài ra ông N , bà K không có con riêng hay nuôi nào khác.

Khi ông N , bà K còn sống có tạo lập khối tài sản gồm: Qu ền sử dụng đất diện tích 3.538m2 thuộc các thửa 125, 127, 312, 335, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại Ấp T, xã H, hu ện Đ, tỉnh , đất nà bà Ngu n Thị được Ủ ban nhân dân hu ện Đức Hòa cấp giấ chứng nhận số V 610801 ngà 17/7/2002. Ngoài ra, còn có thửa 124 diện tích 481,1m2 nhưng bà K chưa đăng ký đứng tên giấ chứng nhận.

Năm 2009, bà Ngu n Thị chết nhưng không để lại di chúc. Sau khi bà K chết, bà V nhiều lần êu cầu bà D và bà V chia di sản thừa kế của cha, mẹ để lại nhưng bà D không thống nhất việc phân chia. Đến ngà 08/5/2020, bà V có gửi đơn êu cầu UBND xã H tiến hành hòa giải thì đã hòa giải thành theo sự thỏa thuận của các chị em, tu nhiên đến khi làm thủ tục cấp giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất thì bà D không đồng ý ký tên vì bà D êu cầu di sản thừa kế phải chia làm 04 phần bằng nhau, 03 chị em mỗi người 01 phần, còn 01 phần để hương quả thờ cúng cha, mẹ và bà D được quản lý sẽ đồng ý ký tên nên các chị em tranh chấp.

Nay bà Mai Thị V khởi kiện tranh chấp với bà Mai Thị D êu cầu như sau:

- Yêu cầu các đồng thừa kế là con của ông Mai Văn N (chết năm 1977) và bà Ngu n Thị (chết năm 2009) chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản thừa kế đối với diện tích 3.538m2 thuộc các thửa 125,127, 312, 335 do bà Ngu n Thị đứng tên giấ chứng nhận số V 610801 cấp ngà 17/7/2002 và thửa 124 diện tích 481,1m2 (chưa cấp giấ chứng nhận), cùng tờ bản đồ số 02 đất tọa lạc tại Ấp T, xã H, hu ện Đ, tỉnh .

- Các đồng thừa kế gồm: bà Mai Thị V, bà Mai Thị D , bà Ngu n Thị Hồng Th m (có người đại diện hợp pháp là ông Ngu n Phúc T ) mỗi người được chia di sản thừa kế là 1/3 qu ền sử dụng đất diện tích 3.538m2 thuộc các thửa 125, 127, 312, 335 và thửa 124 diện tích 481,1m2 (chưa cấp giấ chứng nhận) tờ bản đồ số 02, đất tọa lạc tại Ấp T, xã H, hu ện Đ, tỉnh . Đối với căn nhà thờ cấp 4 (nhà 1) của bà Ngu n Thị trên một phần thửa 312, 124 sẽ giao cho người được nhận thửa đất nà thừa hưởng di sản và thực hiện nghĩa vụ thờ cúng.

Bị đơn bà Mai Thị D có phản tố trình bày:

Bà Mai Thị D thống nhất về mối quan hệ hu ết thống như bà V trình bày. Hiện na , mẹ của ngu ên đơn và bị đơn là bà Ngu n Thị (chết năm 2009) nhưng không có di chúc và có để lại qu ền sử dụng đất do bà Ngu n Thị K đứng tên giấ chứng nhận số V610801 cấp ngà 17/7/2002 tại diện tích 3.538m2 thuộc các thửa 125,127, 312, 335 và thửa 124 diện tích 481,1m2 (chưa cấp giấ chứng nhận) tờ bản đồ số 02 đất tọa lạc tại Ấp T, xã H, hu ện Đ, tỉnh . Trên đất nà có 01 căn nhà nhà cấp 4 của bà K tại thửa 124 và thửa 312.

Về nguồn gốc đất thì đâ không phải là tài sản do cha, mẹ tạo lập mà là di sản của gia tộc họ Mai chia thừa kế lại cho cha là ông Mai Văn N . Sau khi cha chết thì mẹ là bà Ngu n Thị mới làm thủ tục đứng tên giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất số V 610801 cấp ngà 17/7/2002 tại các thửa 125,127, 312, 335, tờ bản đồ số 02 đất tọa lạc tại ấp T, xã H, hu ện Đ, tỉnh , riêng thửa 124, bà K có đăng ký nhưng bị cấp sót nên chưa được cấp giấ .

Đối với êu cầu khởi kiện của bà V thì bà D cũng đồng ý chia nhưng không đồng chia di sản thừa kế cho mỗi người nhận 1/3. Lý do, lúc bà K còn sống thì bà V không phụng dưỡng, đến lúc chết cũng không có trách nhiệm thờ cúng, còn bà V cũng đã chết, ông T là con r theo Đạo Tin ành không biết thờ cúng nên chỉ bà D là người có đủ qu ền quản lý một phần hương quả để thực hiện nghĩa vụ thờ cúng cha, mẹ theo phong tục.

Bà D có đơn phản tố như sau: êu cầu chia di sản thừa kế là qu ền sử dụng đất diện tích đất 3.538m2 thuộc các thửa 125,127, 312, 335, và thửa 124 diện tích 481,1m2 (chưa cấp giấ chứng nhận) tờ bản đồ số 02 đất tọa lạc tại ấp Tân Bình, xã Hòa Khánh Tây thành 04 phần bằng nhau, 03 chị em là bà Mai Thị V , bà Mai Thị D , chị Ngu n Thị Hồng T (có người đại diện hợp pháp là ông Ngu n Phúc T) mỗi người nhận 01 phần tương ứng diện tích 1000m2, còn 01 phần còn lại 1000m2 cùng căn nhà thờ dành để làm hương quả thờ cúng cha mẹ và do bà D quản lý. Đối với căn nhà của vợ chồng bà V, ông T trên thửa đất 124 và 312, thì phải giao cho bà D quản lý hộ cho đến khi cháu T 18 tuổi sẽ giao trả nhà cho cháu T .

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:

1. Ông Ngu n Phúc T là người đại diện hợp pháp của chị Ngu n Thị Hồng T do ông Ngu n Ngọc P đại diện trình bà : Ông T là chồng của bà Mai Thị V (chết năm 2018), ông T và bà V có 01 con chung là Ngu n Thị Hồng T , sinh năm 2009. Bà V không có con nuôi hay con riêng khác.

Năm 2017, phần đất của cha, mẹ để lại được 3 chị em thống nhất chia làm 04 phần theo biên bản họp gia đình ngà 27/7/2017, vợ chồng ông T ngoài phần được chia còn được nhận thêm một phần đất hương quả thờ cúng tại một phần các thửa 124,312,335 nên được hai chị vợ (chị V , D ) thống nhất cho xây dựng lại kiên cố căn nhà tạm thành cấp 4 (nhà 2) trên thửa đất 124, 312 để sinh sống, đến năm 2018 thì bà V chết nên nội bộ gia đình mới phát sinh tranh chấp.

Sau khi vợ (bà V) chết, ông T bị tai biến mạch máu não, con thì còn nhỏ nên ông T đưa con về sống bên cha mẹ ruột. Ông T đại diện cho cháu T và cá nhân ông T xác định không có êu cầu độc lập trong vụ án nà . Ông T không đồng ý với êu cầu phản tố của bà D êu cầu chia di sản thừa kế làm 04 phần và dành quản lý căn nhà của bà Vòn, ông T thống nhất theo êu cầu khởi kiện của bà V chia di sản thừa kế theo qu định của pháp luật làm 03 phần.

Đối với căn nhà cấp 4 (nhà 2) và 02 mái che, 1 nhà vệ sinh là tài sản của vợ chồng ông T xâ dựng năm 2017 trên một phần thửa 312, 124 thì ông T có ý kiến như sau: Trường hợp chia di sản thừa kế làm 03 phần thì ông T thống nhất giao cho người nhận di sản tại các thửa các thửa 124, 312, 335 được quản lý và sử dụng luôn căn nhà của ông T , bà V mà không phải hoàn trả lại giá trị tài sản. Trường hợp các bên không thống nhất và phải chia di sản thừa kế làm 04 phần, có dành một phần hương quả thì người nào thừa hưởng 1 phần hương quả là qu ền sử dung đất có căn nhà (2) trên đất phải hoàn trả giá trị nhà và vật kiến trúc cho ông T , số tiền tương ứng theo giá trị tài sản đã được Tòa án định giá tại Chứng thư thẩm định số 424 ngày 27/12/2022.

2. Ông Trần Văn Hẹo trình bày: Ông Hẹo là chồng bà Mai Thị D , ông Hẹo xác định không có đóng góp gì vào khối tài sản của gia đình bên vợ nên thống nhất theo êu cầu phản tố của bà D .

Tại phiên tòa, ngu ên đơn bà Mai Thị V giữ ngu ên êu cầu trong đơn khởi kiện, không cung cấp thêm chứng cứ.

Bị đơn bà Mai Thị D giữ ngu ên êu cầu phản tố, không cung cấp thêm chứng cứ gì khác.

Người có qu ền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguy n Thị Hồng T (có người đại diện hợp pháp là ông Ngu n Phúc T ) và ông Ngu n Phúc T không có yêu cầu độc lập, không cung cấp thêm chứng cứ gì khác.

Quan điểm của Kiểm sát viên về việc giải qu ết vụ án theo qui định tại Điều 262 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015:

Về thủ tục: Quá trình giải qu ết vụ án, Tòa án đã đưa đúng và đầ đủ người vào tham gia tố tụng, việc thu thập chứng cứ và điều tra vụ án được tiến hành khách quan, đúng pháp luật.Tham gia trực tiếp tại phiên tòa xét thấ các bên đương sự và Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng qui định pháp luật.Tại phiên tòa ngu ên đơn xác định rõ êu cầu khởi kiện; bị đơn giữ ngu ên êu cầu phản tố; người có qu ền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án không có êu cầu độc lập; các bên xác định không cung cấp thêm chứng cứ gì khác.

Về nội dung vụ án:

Ngu ên đơn êu cầu các đồng thừa kế là con của ông Mai Văn N và bà Ngu n Thị chia thừa kế theo pháp luật .

Bị đơn có phản tố êu cầu chia di sản thừa kế thành 04 phần bằng nhau, 03 chị em mỗi người nhận 01 phần tương ứng diện tích 1000m2, còn 01 phần còn lại cùng căn nhà thờ dùng để làm hương quả thờ cúng cha mẹ và do bà D quản lý.

Xét: các bên thống nhất được nguồn gốc di sản nên có căn cứ xác định di sản thừa kế là qu ền sử dụng đất của bà Ngu n Thị đang đứng tên giấ chứng nhận số V 610801 cấp ngà 17/7/2002 đối với diện tích 3.538m2 thuộc các thửa 125,127, 312, 335 và thửa 124 diện tích 481,1m2 (chưa cấp giấ chứng nhận) tờ bản đồ số 02 đất tọa lạc tại Ấp T, xã H, hu ện Đ, tỉnh . Do đó, ngu ên đơn và bị đơn êu cầu chia thừa kế đối với di sản trên là có căn cứ.

Tu nhiên, pháp luật tuy không có qui định cụ thể nhưng khi chia di sản thừa kế cần xem xét nguồn gốc hình thành và dành một phần di sản làm hương quả giao người chịu trách nhiệm thờ cúng cha, mẹ quản lý là phù hợp phong tục và đạo lý.

Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận êu cầu phản tố của bị đơn, chia di sản thừa kế thành 04 phần, mỗi người nhận 01 kỷ phần tương ứng diện tích 1000m2, 01 phần còn lại cùng căn nhà thờ để làm hương quả thờ cúng và giao cho bà D là người có điều kiện quản lý. Phần chênh lệch diện tích đất do không đủ điều kiện tách thửa (nếu có) thì buộc các bên hoàn trả cho nhau bằng giá trị theo giá đất đã định giá.

Từ các căn cứ trên, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần êu cầu khởi kiện của ngu ên đơn, chấp nhận êu cầu phản tố của bị đơn như phân tích trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

au khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả t h i tại phiên tòa, Hội đồng t ử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa ngu ên đơn Mai Thị V êu cầu các đồng thừa kế là con của ông Mai Văn N và bà Ngu n Thị chia thừa kế theo pháp luật đối với diện tích 3.538m2 thuộc các thửa 125,127, 312, 335 và thửa 124 diện tích 481,1m2 (chưa cấp giấ chứng nhận) tờ bản đồ số 02 đất tọa lạc tại Ấp T, xã H, hu ện Đ, tỉnh . Tòa án nhân dân hu ện Đức Hòa thụ lý giải qu ết vụ án là còn trong thời hiệu khởi kiện và xác định quan hệ tranh chấp: “Chia thừa kế quyền sử dụng đất”, việc thụ lý là đúng thẩm qu ền theo qu định tại các Điều 26, Điều 35 B TTDS năm 2015.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Đánh giá chứng cứ do các bên cung cấp và chứng cứ do Tòa án thu thập:

(1) Theo kết quả đo đạc thực tế tại Mãnh trích đo địa chính số 286-2022 do Công t TNHH đo đạc Nhà đất Trung Nghĩa đo vẽ và Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại hu ện Đức Hòa du ệt ngà 28/10/2022 thể hiện: đất tranh chấp tại các thửa 125,127, 312, 335, tờ bản đồ số 02 đất tọa lạc tại ấp Tân Bình, xã Hòa Khánh Tây diện tích đo thực tế 3.558.5m2 (trong giấ chứng nhận ghi 3.538m2); thửa 124 diện tích 481,1m2 (chưa cấp giấ chứng nhận) .

(2) Căn cứ Chứng thư thẩm định giá số 424/27/12/2022 ngà 27/12/2022 của Công t Cổ phần Thương mại Dịch vụ và Tư vấn Hồng Đức.

(3). Căn cứ biên bản Thẩm định tại chỗ của Tòa án vào ngày 17/8/2022 thể hiện:

+ Thửa 125 diện tích đo thực tế là 1.266,8m2 là đất úa; thửa 127 diện tích đo thực tế là 1491.7m2 là đất úa; thửa 335 diện tích đo thực tế là 400m2 là đất Lúa;

+ Thửa 312 diện tích thực tế là 400m2 là đất ONT, có vật kiến trúc là căn nhà thờ của bà hoá và căn nhà bà Vòn, ông T trên đất;

+ Thửa 124 diện tích thực tế là 481,1m2 là đất ONT, có vật kiến trúc là căn nhà thờ của bà hoá và căn nhà bà Vòn, ông T trên đất;

(4). Căn cứ kết quả thu thập chứng cứ của Tòa án, UBND xã Hoà Khánh Tây cung cấp thông tin tại công văn số 308/UBND-KT ngày 22/5/2023 xác định: Thửa 124 diện tích thực tế 481,1m2 là đất ONT, đủ điều kiện cấp giấ chứng nhận.

[2.2]. Xem t ý kiến trình bày của các bên đương sự :

Tại phiên tòa, ngu ên đơn Mai Thị V, bị đơn Mai Thị D và người đại diện của người có qu ền lợi liên quan chị Ngu n Thị Hồng Th m, ông Ngu n Phúc T thống nhất được: qu ền sử dụng đất của bà Ngu n Thị đang đứng tên giấ chứng nhận số V 610801 cấp ngà 17/7/2002 đối với diện tích 3.538m2 thuộc các thửa 125,127, 312, 335 và thửa 124 diện tích 481,1m2 (chưa cấp giấ chứng nhận) tờ bản đồ số 02 đất tọa lạc tại Ấp T, xã H, hu ện Đ, tỉnh là di sản thừa kế, người thuộc hàng thừa kế thứ nhất được hưởng di sản gồm: bà Mai Thị V , bà Mai Thị D và người đại diện của chị Ngu n Thị Hồng Th m là ông Ngu n Phúc T , đâ là tình tiết không cần phải chứng minh.

Tại phiên tòa các bên đương sự đề nghị hướng giải qu ết như sau:

+ Bà Mai Thị V và ông T đại diện cháu T đề nghị: chia di sản thừa kế là 1/3 qu ền sử dụng đất diện tích 3.538m2 thuộc các thửa 125, 127, 312, 335 và thửa 124 diện tích 481,1m2 (chưa cấp giấ chứng nhận) tờ bản đồ số 02, đất tọa lạc tại Ấp T, xã H, hu ện Đ, tỉnh . Do qui định về điều kiện tách thửa của Nhà nước nên không thể chia đều diện tích đất làm 03 phần mà cần chia trọn thửa đất như sau:

Bà V hoặc bà D sẽ được chọn và nhận trọn thửa 127 diện tích đo thực tế là 1.491,7m2, loại đất úa hoặc bà V, bà D sẽ nhận trọn thửa 335 diện tích 400m2 (đất úa) cùng thửa 312 diện tích 400m2 (đất ONT), thửa 124 diện tích 481,1m2 (đất ONT), có vật kiến trúc là hai căn nhà, gồm căn thờ của bà hoá và căn nhà của bà Vòn, ông T trên đất giao cho người nhận 03 thửa đất nà thừa hưởng dùng làm di sản thờ cúng.

Ông T đại diện cháu T đồng ý nhận thửa 125 diện tích đo thực tế là 1266,8m2 (đất úa). Đối với căn nhà cấp 4 (nhà 2) và 02 mái che, 01 nhà vệ sinh của vợ chồng ông T xâ dựng năm 2017 trên một phần thửa 312, 124 thì ông T thống nhất giao cho người nhận di sản tại các thửa các thửa 124, 312, 335 được quản lý và sử dụng mà không phải hoàn trả lại giá trị cho ông T , bà Vòn.

+ Bà Mai Thị D vẫn giữ yêu cầu chia di sản thừa kế tại các thửa 125,127, 312, 335 và thửa 124 thành 04 phần bằng nhau, 03 chị em là bà Mai Thị V , bà Mai Thị D , chị Ngu n Thị Hồng Th m mỗi người nhận 01 phần tương ứng diện tích 1000m2, còn lại 1000m2 cùng đất và nhà thờ để làm hương quả thờ cúng cha mẹ sẽ giao bà D quản lý.

[2.3]. Hội đồng t ử t yêu cầu của các bên đương sự:

(1). Xét, bà Ngu n Thị chết năm 2009 nhưng không để lại di chúc. Di sản thừa kế của bà hoá để lại tại các thửa 125,127, 312, 335 và thửa 124 được chia theo pháp luật là phù hợp qui định tại Điều 649, Điều 650, Điều 651 Bộ luật Dân sự. Tu nhiên, nếu chia di sản thừa kế theo pháp luật làm 03 phần hoặc chia làm 04 phần đối với diện tích đất tại các thửa 125,127, 312, 335 và thửa 124 như êu cầu của các bên đương sự thì có phần diện tích còn lại sẽ không trọn thửa, vi phạm điều kiện tách thửa qui định tại Qu ết định 42/2021/QĐ-UBND ngày 18/10/2021 của UBND tỉnh ong An. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 660 BLDS, cần xem xét quy ra bằng giá trị để làm cơ sở giải qu ết êu cầu chia di sản bằng hiện vật của các bên đương sự.

Căn cứ Chứng thư thẩm dịnh giá số 424/27/12/2022 ngà 27/12/2022 thì giá trị từng thửa đất được xác định theo giá đất qui định tại Qu ết định 74/2019/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 và giá thị trường tại thời điểm xét xử như sau:

+ Thửa 125 (diện tích 1.266,8 m2, loại đất úa x giá 150.000đồng) có giá trị: 190.020.000đồng; (giá thị trường 2.736.288.000đồng)

+ Thửa 127 (diện tích 1.491,7m2, loại đất úa x giá 150.000đồng) có giá trị: 223.755.000đồng; (giá thị trường 3.222.072.000đồng)

+ Thửa 335 (diện tích 400m2, loại đất úa x giá 150.000đồng) có giá: 60.000.000đồng; (giá thị trường 864.072.000đồng)

+ Thửa 312 (diện tích 400m2, loại đất ONT x giá 410.000đồng) có giá: 161.130.000đồng; (giá thị trường 1.556.673.000đồng)

+ Thửa 124 (diện tích 481,1m2, loại đất ONT x giá 410.000đồng) có giá: 197.251.000đồng. (giá thị trường 1.905.637.000đồng)

+ Tài sản trên đất:

Nhà 1 (nhà thờ): 108.251.749 đồng; Nhà 2 (nhà của bà Vòn, ông T cùng vật kiến trúc khác trên đất): 426.191.000 đồng; Câ trồng trên đất: 1.840.000đồng.

Tổng giá trị di sản thừa kế tại các thửa đất và tài sản trên đất nếu xem xét theo giá thị trường là 10.392.993.749 đồng, chia theo pháp luật làm 03 phần thì mỗi kỹ phần có giá trị là: 3.464.331.249 đồng.

Từ đó, Hội đồng xét xử xem xét êu cầu khởi kiện của ngu ên đơn và yêu cầu phản tố của bị đơn như sau:

Ngu ên đơn bà V đề nghị: đồng ý nhận hiện vật trọn thửa 127 diện tích đo thực tế là 1491,7m2 đất Lúa, có giá trị: 3.222.072.000đồng/3.464.331.249đồng; ông T đại diện cháu T : đồng ý nhận hiện vật trọn thửa 125 diện tích đo thực tế là 1266,8 m2, đất úa có giá trị: 2.736.288.000đồng/3.464.331.249 đồng. Do đó, đối với êu cầu của ngu ên đơn tự ngu ện nhận trọn thửa 127 và ông T đại diện cháu T nhận hiện vật trọn thửa 125 là thấp hơn kỹ phần thừa kế được hưởng và phù hợp với qui định pháp luật nên êu cầu khởi kiện và ý kiến đề nghị của ngu ên đơn được Hội đồng xét xử ghi nhận.

Đối với bị đơn có phản tố: xét bà D vì có nhu cầu nhận nhà thờ để thờ cúng cha mẹ và được ngu ên đơn đồng ý nên cần chấp nhận và giao cho bà D nhận trọn các thửa 335 diện tích 400m2 (đất úa), thửa 312 diện tích 400m2 (đất ONT), thửa 124 diện tích 481,1m2 (đất ONT), có vật kiến trúc là 01 căn nhà thờ của bà và 01 căn nhà cấp 4, 01 ngôi mộ (của bà Vòn) và công trình phụ trên đất của bà Vòn, ông T (bà D nhận di sản nhà, đất vật kiến trúc có tổng giá trị là 4.862.664.479đồng/3.464.331.249đồng) là có lợi cho bà D và phù hợp nguyên vọng của các bên có để lại một phần di sản làm hương quả thờ cúng là phù hợp. Do đó, đối với êu cầu phản tố của bị đơn Mai Thị D chia di sản thừa kế tại các thửa 125,127, 312, 335 và thửa 124 thành 04 phần bằng nhau mỗi người 01 phần tương ứng diện tích 1000m2, 01 phần còn lại cùng nhà thờ để làm hương quả thờ cúng cha mẹ và giao bà D quản lý nhưng không đủ điều kiện tách thửa. Do đó, êu cầu phản tố của bị đơn chỉ có căn cứ chấp nhận một phần.

Xét quan điểm của iểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toán bộ êu cầu phản tố của bị đơn là có căn cứ chấp nhận một phần.

[3]. Về chi phí thẩm định, định giá: Tòa án có chi phí số tiền 39.000.000đồng gồm: chi phí thẩm định tại chỗ là 2.000.000đồng và nộp lệ phí Trích đo bản vẽ là 20.000.000đồng, chi phí định giá 17.000.000đồng. Trong đó, ngu ên đơn bà V đã nộp tạm ứng là 39.000.000đồng, tại phiên tòa bà V tự ngu ện chịu chi phí tố tụng nà là tự ngu ện và phù hợp nên ghi nhận. Bà V đã nộp xong.

[4].Về án phí: Căn cứ khoản 1, 2, 3 Điều 26; khoản 7 Điều 27 Nghị qu ết số 326/2016/UBTVQH.14 ngà 30/12/2016 của Ủ ban thường vụ Quốc Hội qu định về án phí, lệ phí Toà án.

Buộc các ông, bà: bà Mai Thị V, bà Mai Thị D , ông Ngu n Phúc T đại diện chị Ngu n Thị Hồng Th m phải chịu án phí DSST tương ứng với giá trị của kỷ phần di sản được nhận (mức án phí được tính theo khung giá đất qui định tại Qu ết định 74/2019/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 của UBND tỉnh ong An) sung công quỹ Nhà nước.

Buộc bà Mai Thị V phải nộp tiền án phí DSST tương ứng di sản thừa kế được nhận (thửa 127 có giá trị 223.755.000đồng) là 11.187.750 đồng sung công quỹ Nhà nước. Chi cục thi hành án dân sự hu ện Đức Hòa khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí cho bà Mai Thị V đã nộp là 3.750.000đồng (Ba triệu bả trăm năm mươi ngàn đồng) theo biên lai thu số 0010020 ngà 04/4/2022. Buộc bà Mai Thị V phải nộp bổ sung 7.437.750 đồng (Bả triệu bốn trăm ba mươi bả ngàn bả trăm năm mươi đồng) án phí DSST sung công quỹ Nhà nước.

Bà Mai Thị D phải nộp tiền án phí DSST là 40.639.912đồng sung công quỹ Nhà nước (gồm giá trị các thửa đất là 418.381.000đồng và giá trị tài sản trên đất là 536.282.749đồng = 954.663.749 đồng). Chi cục thi hành án dân sự hu ện Đức Hòa khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí cho bà Mai Thị D đã nộp là 18.726.000đồng (Mười tám triệu bả trăm hai mươi sáu ngàn đồng) theo biên lai thu số 0008350 ngà 30/3/2023. Buộc bà Mai Thị D phải nộp bổ sung 21.913.912 đồng (Hai mươi mốt triệu chín trăm mười ba ngàn chín trăm mười hai đồng) án phí DSST sung công quỹ Nhà nước.

Ông Ngu n Phúc T đại diện chị Ngu n Thị Hồng T phải nộp tiền án phí DSST (thửa 125 có giá trị 190.020.000đồng) là 9.501.000đồng (Chín triệu năm trăm lẽ một ngàn đồng) sung công quỹ Nhà nước

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 26, Điều 35, Điều 217, Điều 227, Điều 271, Điều 471 B TTDS năm 2015;

Áp dụng các Điều 8, Điều 11, Điều 163, Điều 649, Điều 650, Điều 660 B DS năm 2015;

Áp dụng hoản 3 Điều 100; hoản 2 Điều 106, Điều 195 uật Đất đai năm 2013.

Áp dụng khoản 1, 2, 3 Điều 26; khoản 7 Điều 27 Nghị qu ết số 326/2016/UBTVQH.14 ngà 30/12/2016 của Ủ ban thường vụ Quốc Hội qu định về án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên Xử:

1. Chấp nhận êu cầu khởi kiện của ngu ên đơn Mai Thị V về việc “Tranh chấp chia di sản thừa kế quyền sử dụng đất” đối với bị đơn Mai Thị D .

2. Chấp nhận một phần êu cầu phản tố của bị đơn Mai Thị D về việc “Tranh chấp chia di sản thừa kế quyền sử dụng đất” đối với ngu ên đơn Mai Thị V và người có qu ền lợi nghĩa vụ liên quan ông Ngu n Phúc T , chị Ngu n Thị Hồng T (có người đại diện hợp pháp là ông Ngu n Phúc T ).

3. Chia sản thừa kế của bà Ngu n Thị (chết năm 2009) theo pháp luật tại diện tích 3.558m2 thuộc các thửa 125,127, 312, 335 và thửa 124 diện tích 481,1m2 (chưa cấp giấ chứng nhận) tờ bản đồ số 02 đất tọa lạc tại Ấp T, xã H, hu ện Đ, tỉnh như sau:

3.1. Bà Mai Thị V được chia di sản thừa kế tại thửa 127 diện tích đo thực tế 1491,7m2, loại đất úa, tờ bản số 02, tọa lạc tại Ấp T, xã H, hu ện Đ, tỉnh .

3.2. Chị Ngu n Thị Hồng T (có người đại diện hợp pháp là ông Ngu n Phúc T ) được chia di sản thừa kế thửa 125, loại đất úa diện tích đo thực tế là 1266,8m2 tờ bản số 02, tọa lạc tại Ấp T, xã H, hu ện Đ, tỉnh ;

3.3. Bà Mai Thị D được chia di sản thừa kế tại các thửa 335 diện tích 400m2 (đất úa), thửa 312 diện tích 400m2 (đất ONT), thửa 124 diện tích 481,1m2 (đất ONT, chưa cấp giấ ), có vật kiến trúc là 01 căn nhà thờ của bà hoá và 01 căn nhà cấp 4, 01 ngôi mộ (của bà V) và công trình phụ trên đất của bà Vòn, ông T .

3.4. Các ông, bà Mai Thị V, Mai Thị D , chị Ngu n Thị Hồng T (có người đại diện hợp pháp là ông Ngu n Phúc T ) được liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm qu ền đăng ký đứng qu ền sử dụng đất tại các thửa đất được chia nêu trên.

(Vị trí đất các ông, bà Mai Thị V , Mai Thị D , chị Ngu n Thị Hồng T (có người đại diện hợp pháp là ông Ngu n Phúc T ) nhận theo Mãnh trích đo địa chính số 286-2022 do Công t TNHH đo đạc Nhà đất Trung Nghĩa đo vẽ và Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại hu ện Đức Hòa du ệt ngà 28/10/2022; Qu ền sử dụng đất do bà Ngu n Thị đứng tên giấ chứng nhận số V 610801 cấp ngà 17/7/2002, bản chính giấ chứng nhận do bà V giữ);

3. Về chi phí thẩm định, bản vẽ: Bà Mai Thị V tự ngu ện chịu chi phí thẩm định tại chỗ, lệ phí Trích đo bản vẽ, chi phí định giá với tổng số tiền 39.000.000đồng (Ba mươi chín triệu đồng). Bà V đã nộp xong.

[4].Về án phí: Căn cứ khoản 1, 2, 3 Điều 26; khoản 7 Điều 27 Nghị qu ết số 326/2016/UBTVQH.14 ngà 30/12/2016 của Ủ ban thường vụ Quốc Hội qu định về án phí, lệ phí Toà án.

Buộc các ông, bà: bà Mai Thị V , bà Mai Thị D , ông Ngu n Phúc T đại diện chị Ngu n Thị Hồng T phải chịu án phí DSST tương ứng với giá trị của kỷ phần di sản được nhận (án phí được tính theo giá đất qui định tại Qu ết định 74/2019/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 của UBND tỉnh ong An) sung công quỹ Nhà nước.

Bà Mai Thị V phải nộp tiền án phí DSST tương ứng di sản thừa kế được nhận là 11.187.750đồng sung công quỹ Nhà nước. Chi cục thi hành án dân sự hu ện Đức Hòa khấu trừ cho bà Mai Thị V tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.750.000đồng (Ba triệu bả trăm năm mươi ngàn đồng) theo biên lai thu số 0010020 ngà 04/4/2022. Buộc bà Mai Thị V phải nộp bổ sung 7.437.750đồng (Bả triệu bốn trăm ba mươi bả ngàn bả trăm năm mươi đồng) án phí DSST sung công quỹ Nhà nước.

Bà Mai Thị D phải nộp tiền án phí DSST là 40.639.912đồng sung công quỹ Nhà nước. Chi cục thi hành án dân sự hu ện Đức Hòa khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí cho bà Mai Thị D đã nộp là 18.726.000đồng (Mười tám triệu bả trăm hai mươi sáu ngàn đồng) theo biên lai thu số 0008350 ngà 30/3/2023. Buộc bà Mai Thị D phải nộp bổ sung 21.913.912 đồng (Hai mươi mốt triệu chín trăm mười ba ngàn chín trăm mười hai đồng) án phí DSST sung công quỹ Nhà nước.

Ông Ngu n Phúc T đại diện chị Ngu n Thị Hồng T phải nộp tiền án phí DSST là 9.501.000đồng (Chín triệu năm trăm lẽ một ngàn đồng) sung công quỹ Nhà nước

5. Về quyền kháng cáo: Án sơ thẩm xét xử tu ên án công khai, trong hạn 15 ngà tính từ ngà tu ên án ngu ên đơn, bị đơn, người có qu ền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có qu ền kháng cáo.

“Trường hợp bản án hoặc qu ết định được thi hành theo qu định tại Điều 2 uật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có qu ền thỏa thuận thi hành án, qu ền êu cầu thi hành án, tự ngu ện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qu định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 uật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án là 05 năm theo qu định tại Điều 30 uật thi hành án”.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các đương sự

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- V SND hu ện

- TAND tỉnh ong An

- ưu HS.

Nguyễn Kh c Linh Duy

Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Chí Lin – Trần Thị Đổi

Nguyễn Kh c Linh Duy

Cỡ chữ