- Tranh chấp gì? án hình sự — "TRƯƠNG HOÀNG L - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo Trương Hoàng L phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2022/HS-ST Ngày: 14- 7-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Đình Tú.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Xuân Tỵ; Bà Dương Thị Tố Như;
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dự - Là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên tòa: Bà Ông Trần Thanh Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 7 năm 2022 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố B (TP. B), tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2022/HSST ngày 08 tháng 6 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2022/QĐXXST- HS ngày 01 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trương Hoàng L; tên gọi khác: L cave; giới tính: Nam; sinh năm: 1989; tại: Lâm Đồng; NĐKNKTT và cư trú: Số C, đường B, phường B’, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; trình độ văn hóa: 11/12; nghề nghiệp: Không; con ông, bà: Không biết họ tên, địa chỉ nơi cư trú của cha, mẹ đẻ; mẹ nuôi: Trương Thị Th; vợ con: Chưa có; tiền án: Có 02 tiền án
+ Ngày 11/4/2017 Tòa án nhân dân thành phố B xử phạt 18 tháng tù giam về tội Cưỡng đoạt tài sản theo Bản án số 26/2017/HSST, đến nay chưa được xóa án tích.
+ Ngày 15/01/2020 Tòa án nhân dân thành phố B xử phạt 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo Bản án số 03/2020/HS-ST. Ngày 03/02/2021, chấp hành xong hình phạt tù, đến nay chưa được xóa án tích.
Tiền sự:
+ Ngày 31/12/2015 Công an phường B’, TP. B xử phạt 1.500.000đ đồng về hành vi Trộm cắp tài sản theo Quyết định xử phạt số 13/QĐ-XPVPHC. Hiện chưa đóng phạt nên chưa được xem là hết thời hiệu được xem là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính;
+ Ngày 22/3/2016 Công an phường B’, TP. B xử phạt 1.500.000đ đồng về hành vi Dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản của người khác theo Quyết định xử phạt số 44/QĐ-XPVPHC. Hiện chưa đóng phạt nên chưa được xem là hết thời hiệu được xem là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị tạm giam từ ngày 30/3/2022 cho đến nay, có mặt
- Bị hại: Nguyễn Văn T, sinh năm 1986; trú tại: Số X đường Đ, Phường Y, TP. B, tỉnh Lâm Đồng, vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Vũ Trí H, sinh năm 1992; trú tại: Số Q đường H, Phường Y, TP. B, tỉnh Lâm Đồng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào sáng ngày 22/01/2022, Trương Hoàng L, điều khiển xe mô tô BKS: 49M2-0244 đi từ nhà đến khu vực đối diện Bệnh viện II Lâm Đồng cũ, đường Đ, Phường Y, TP. B để uống cà phê. Trên đường đi thì L gặp 01 người đàn ông (Không rõ nhân thân lai lịch) xin đi nhờ xe thì L đồng ý. L điều khiển xe mô tô chở người đàn ông này đi đến quán ăn H tại địa chỉ: Số M, đường Đ, Phường Y, thành phố B do anh Nguyễn Văn T làm chủ thì L dừng lại để vào xin nước uống, đồng thời nhờ người đàn ông đi cùng trông xe giúp. Khi đi vào quán L thấy không có người trông coi, phát hiện 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung, loại Galaxy A30, có gắn ốp màu đen để trên tủ đựng đồ ăn, nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Thực hiện ý định, L dùng tay trái lấy chiếc điện thoại này bỏ vào túi quần trái phía trước của mình, sau đó đi ra vị trí xe mô tô và nói với người đàn ông đi cùng L chở đi. Khi đến ngã ba đường C và B thì người đàn ông này xuống xe. L tiếp tục điều khiển xe đi đến cửa hàng điện thoại di động N Apple, địa chỉ: Số K đường H, Phường Y, Tp.Bảo Lộc bán chiếc điện thoại trên cho anh Vũ Trí H, là chủ cửa hàng được số tiền là 700.000đ. Sau đó, L điều khiển xe mô tô đi đến khu vực nghĩa trang trên đường N, phường B’, thành phố B để mua ma túy sử dụng hết số tiền trên.
Tại bản kết luận số 29/KL – HĐ ĐGTS của hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự TP. B kết luận: Giá trị tại điểm ngày 22/01/2022 của 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxyA30, màu xanh lam, số imeil 1: 358384101109953/01, số imeil 2: 358385101109950/01, mua vào tháng 08/2021, đã qua sử dụng là 2.167.000đ
Giá trị tại điểm ngày 22/01/2022 của 01 ốp điện thoại màu đen, dùng cho điện thoại Samsung galaxy A30 đã qua sử dụng là: 20.000đ.
Về vật chứng: Quá trình điều tra, cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã thu giữ và trả lại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung, loại Galaxy A30, màu xanh, có gắn ốp màu đen cho anh Nguyễn Văn T là chủ sở hữu hợp pháp. Hiện đang tạm giữ: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, Model RM-1133, màu đen đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha màu đỏ đen, biển số: 49M2-0244 đã qua sử dụng của Trương Hoàng L.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Nguyễn Văn T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Vũ Trí H không có yêu cầu bồi thường gì về dân sự.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng đã nêu, không thắc mắc khiếu nại đối với nội dung Bản cáo trạng.
Bản Cáo trạng số 70/CT-VKSBL ngày 31 tháng 5 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân TP. B, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Trương Hoàng L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
Vào ngày 22/01/2022, Trương Hoàng L đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung, loại Galaxy A30, có gắn ốp màu đen của anh Nguyễn Văn T có tổng giá trị là 2.187.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã vi phạm pháp luật hình sự, xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của công dân và gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo L từ 24 đến 30 tháng tù và đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về Dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường nên đề nghị không xem xét. Về xử lý vật chứng: Đề nghị trả lại cho bị cáo L 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, RM-1133 màu đen đã qua sử dụng; giao cho Cơ quan CSĐT Công an thành phố B tiếp tục xác minh, xử lý theo thẩm quyền đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, màu đỏ đen, biển số: 49M2-0244, số khung: RLCN 28510-6Y125059, đã qua sử dụng, không có tài sản gì bên trong cốp xe, không kiểm tra tình trạng bên trong máy. Buộc bị cáo L phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo L xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an TP. B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân TP. B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về căn cứ xác định tội: Vào ngày 22/01/2022, Trương Hoàng L đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung, loại Galaxy A30, có gắn ốp màu đen của anh Nguyễn Văn T có tổng giá trị là 2.187.000 đồng. Đối chiếu lời khai của bị cáo, bị hại, kết luận định giá tài sản có đủ căn cứ khẳng định hành vi của bị cáo L đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự;
Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện thái độ coi thường pháp luật, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần áp dụng cho bị cáo một hình phạt nghiêm khắc để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu. Phạm tội khi đang có 02 tiền án và 02 tiền sự. Tuy bị cáo có 02 tiền án nhưng Hội đồng xét xử không xác định là tái phạm nguy hiểm vì: Tại bản án số 03/2020/HS-ST ngày 15/01/2020 Tòa án nhân dân thành phố B xác định tiền án tại bản án số 26/2017/HSST ngày 11/4/2017 của Tòa án nhân dân thành phố B là tình tiết định tội nên không xem là tình tiết nặng TNHS. Do vậy bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tái phạm, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Xét thấy: Cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, RM-1133 màu đen đã qua sử dụng là tài sản cá nhân của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo. Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, màu đỏ đen, biển số: 49M2-0244, số khung: RLCN 28510-6Y125059, đã qua sử dụng, không có tài sản gì bên trong cốp xe, không kiểm tra tình trạng bên trong máy, là tài sản không có giấy tờ hợp pháp cần giao cho Cơ quan CSĐT Công an thành phố B tiếp tục xác minh, xử lý theo thẩm quyền.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về án phí: Bị cáo pH chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Tuyên bố bị cáo Trương Hoàng L phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Áp dụng điểm 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Trương Hoàng L 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/3/2022.
2/ Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo L 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, RM-1133 màu đen đã qua sử dụng; giao cho Cơ quan CSĐT Công an thành phố B tiếp tục xác minh, xử lý theo thẩm quyền 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, màu đỏ đen, biển số: 49M2-0244, số khung: RLCN 28510-6Y125059, đã qua sử dụng, không có tài sản gì bên trong cốp xe, không kiểm tra tình trạng bên trong máy.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/6/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B với Chi cục thi hành án dân sự thành phố B).
3/ Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015 và Nghị quyết số 326 của Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo L phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo, riêng bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc ngày niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Lâm Đồng; -VKSND tỉnh Lâm Đồng; - Sở tư pháp; -VKSND TP Bảo Lộc; - Công an TP. B - Nhà tạm giữ; - Người tham gia tố tụng; - Chi cục T.H.A dân sự TP. B; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Đình Tú |