- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Thị Hồng C phạm tội cố ý làm hư hỏng tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
- Tòa quyết gì? 1/ Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 35 BLHS năm 2015 tuyên bố bị cáo Phan Thị Hồng C phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN NHÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 66/2022/HS-ST Ngày 18-8-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Bé Thu
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Thành Thật;
Bà Phan Hoàng Mai.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ký – Thư ký Tòa án, của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đức Anh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 59/2022/TLST-HS ngày 27 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2022/QĐXXST-HS, ngày 05 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
Phan Thị Hồng C, sinh ngày 17 tháng 8 năm 1984 tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Địa chỉ: khóm Đ, phường M, thành phố LX, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phan Đức Th (chết) và bà Trần Thị Phương Th, sinh năm 1952; bị cáo có chồng là Cao Văn Bé S, sinh năm 1987; có 02 (hai) con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2019; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Nhỏ đến lớn sống chung với cha mẹ tại phường Mỹ Thạnh, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang đi học đến hết lớp 12 thì nghỉ. Bị cáo có 05 chị em, bị cáo thứ năm.
Trong vụ án này bị cáo được tại ngoại.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
1/ Ông Huỳnh Ni L, sinh năm 1977 (Có mặt);
2/ Bà Phan Thị Cẩm H, sinh năm 1981 (Có mặt).
Cùng địa chỉ: khóm Đ, phường M, thành phố LX, tỉnh An Giang, tỉnh An Giang.
Người làm chứng:
- Ông: Cao Văn Bé S, sinh năm 1987 (Có mặt);
- Em: Huỳnh Minh Tr, sinh năm 2007.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hồ Văn T - Luật sư của Văn phòng Luật sư Trần Văn Nghĩa, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh An Giang; địa chỉ liên hệ: khóm Đ, phường ĐX, thành phố LX, tỉnh An Giang (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bà Phan Thị Cẩm H và bị cáo Phan Thị Hồng C là chị em ruột, nhà ở cạnh nhau tại tổ 3, khóm Đ, phường M, thành phố LX, tỉnh An Giang. Khoảng cuối năm 2020, bà H và chồng là ông L có lắp đặt tấm pin năng lượng mặt trời trên phần đất của gia đình và các chị, em của bà H. Trong đó có một phần đất của gia đình bị cáo nhưng được bị cáo đồng ý. Khoảng 11 giờ ngày 04 tháng 02 năm 2022, bị cáo sang nhà của bà H nói chuyện thì xảy ra cự cãi. Sau đó, bị cáo về nhà khoảng 10 phút sau thì thấy ông Huỳnh Ni L (là chồng của bà C) về bị cáo đi ra nói chuyện liên quan đến việc trả tiền lắp tấm pin năng lượng mặt trời trên phần đất của bị cáo 3.000.000 đồng/tháng dẫn đến hai bên cự cãi. Ông Cao Văn Bé S là chồng của bị cáo thấy vợ cự cãi với ông L sợ vợ bị đánh thì đi ra. Quá trình hai bên cự cãi ông Cao Văn Bé S tát trúng mặt ông L một cái. Sau đó, ông L và ông Sáu được bị cáo và bà H can ngăn nên hai bên dừng lại. Khoảng 10 phút sau, do tức giận việc gia đình bà H không chịu trả tiền lắp tấm pin năng lượng mặt trời trên phần diện tích đất nhà mình nên bị cáo cầm con dao mũi nhọn có cán bằng gỗ, lưỡi bằng sắt dài 43cm trèo lên cầu thang đến sân thượng gia đình nhà bà H đập làm hư hỏng 02 (hai) tấm pin năng lượng mặt trời của gia đình bà H thì bị Huỳnh Minh Tr (con của bà H) dùng điện thoại ghi hình, báo cho bà H biết. Sau đó, bà H đến Công an phường Mỹ Thạnh trình báo.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) con dao bằng kim loại, mũi nhọn, cán bằng gỗ, dài 43cm; lưỡi dài 26cm, cán dài 17cm, nơi rộng nhất 6,5cm do Cẩm giao nộp; 01 (một) đoạn video do Phan Thị Cẩm H giao nộp.
Kết luận về việc xác định giá trị tài sản số 18/KL.HĐ ngày 21/02/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Long Xuyên xác định: 02 (Hai) tấm pin năng lượng mặt trời 440Wp bị hư hỏng + công sửa chữa, thiệt hại 7.388.800 (Bảy triệu, ba trăm tám mươi tám nghìn, tám trăm) đồng.
Cáo trạng số 59/CT-VKS, ngày 25/7/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên truy tố bị cáo Phan Thị Hồng C về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) (Gọi tắt là BLHS năm 2015);
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 178 và Điều 35 BLHS năm 2015;
- Về tình tiết giảm nhẹ: Đề nghị áp dụng tình tiết “người phạm tội bồi thường thiệt hại”, “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo” quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015;
- Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Xử phạt bị cáo hình phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đồng về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận số tiền 5.000.000 đồng, không yêu cầu bồi thường thêm nên đề nghị không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao bằng kim loại, mũi nhọn, cán bằng gỗ, dài 43cm; lưỡi dài 26cm, cán dài 17cm, nơi rộng nhất 6,5cm.
Đồng thời, nhắc nhở gia đình hai bên hành vi phạm tội của bị cáo ngày hôm nay xuất phát từ mâu thuẫn giữa anh, chị, em trong gia đình nên các bên cố gắng giải quyết mẫu thuẫn, yêu thương lẫn nhau để không xảy ra trường hợp tương tự như trường hợp của bị cáo
Người bào chữa cho bị cáo trình bày nội dung bào chữa: Thống nhất tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo mà Kiểm sát viên đề nghị. Tuy nhiên có đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ “phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 và Điều 54 BLHS năm 2015 để xem xét xử phạt bị cáo mức phạt tiền là 10.000.000 đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phan Thị Hồng C khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố. Bị cáo không khiếu nại gì đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố. Bị cáo không tranh luận với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối hận về hành vi của mình và xin được giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại ông Huỳnh Ni L và bà Phan Thị Cẩm H: Xác định vào khoảng 11 giờ ngày 04/02/2022 bị cáo Phan Thị Hồng C là em ruột của bà Phan Thị Cẩm H giữa hai bên gia đình có xảy ra cự cãi. Sau đó, bị cáo đã leo lên cầu thang đến sân thượng nhà của gia đình ông, bà dùng dao đập làm hư hỏng 02 (hai) tấm pin năng lượng mặt trời của gia đình ông, bà thì bị con trai của ông, bà là Huỳnh Minh Tr (sinh năm 2007) dùng điện thoại quay. Đối với thiệt hại từ việc bị cáo đập 02 (hai) tấm pin thì bị cáo đã bồi thường cho vợ chồng ông, bà số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) nên ông, bà không yêu cầu bồi thường thêm. Ông, bà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đối với việc ông Cao Văn Bé S đánh trúng mặt ông Huỳnh Ni L nhưng không gây thương tích nên ông L không yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét đối với hành vi ông Sáu đánh trúng ông.
Người làm chứng Cao Văn Bé S trình bày: Ngày 04/02/2022 ông ở trong nhà thì nghe vợ ông là bị cáo Phan Thị Hồng C cự cãi với ông Huỳnh Ni L (anh rể). Ông đi ra ngoài xem thấy ông L đi lại gần vợ ông, giơ tay lên nên ông sợ vợ ông bị ông L đánh nên ông đi ra. Quá trình hai bên cự cãi ông có dùng tay gạt tay ông L ra dẫn đến tay ông tát trúng mặt ông L một cái. Sau đó thì ông và ông L được mọi người can ngăn nên ông vô nhà giữ con. Việc vợ ông sau đó leo lên nóc nhà đập bể 02 (hai) tấm pin năng lượng mặt trời của bà H và ông L ông không biết.
Người làm chứng em Huỳnh Minh Tr thể hiện lời khai trong quá trình điều tra như sau: Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 04/02/2022 em đang đứng trước cửa nhà thì thấy bị cáo Phan Thị Hồng C (là dì của em) cầm dao leo lên nóc nhà chỗ ba em là ông Huỳnh Ni L lắp đặt tấm pin năng lượng mặt trời nên em vào nhà rồi đi lên lầu ra phía trước ban công dùng điện thoại di động của mẹ em là bà Phan Thị Cẩm H để quay ghi lại hình ảnh bị cáo dùng cây dao đập phá tấm pin năng lượng mặt trời của ba em.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 11 giờ 10 phút ngày 04/02/2022 bị cáo đã có hành vi dùng con dao nhọn có cán bằng gỗ, lưỡi bằng sắt dài 43cm trèo lên cầu thang đến sân thượng nhà của bà Phan Thị Cẩm H tại tổ 3, khóm Đông Thạnh A, phường Mỹ Thạnh, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang đập 02 (hai) tấm pin năng lượng mặt trời của bà H và ông L. Hậu quả: Làm vỡ hư hỏng hai tấm pin năng lượng mặt trời. Kết luận về việc xác định giá trị tài sản số 18/KL.HĐ ngày 21/02/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Long Xuyên xác định: 02 (hai) tấm pin năng lượng mặt trời 440Wp bị hư hỏng + công sửa chữa, thiệt hại là 7.388.800 (Bảy triệu, ba trăm tám mươi tám nghìn, tám trăm) đồng.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Sự thừa nhận này phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra là 02 (hai) tấm pin năng lượng mặt trời; con dao, hình ảnh trích xuất từ dữ liệu video do Huỳnh Minh Tr ghi lại,... Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 BLHS năm 2015. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi hủy hoại tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Như vậy, Cáo trạng số 59/CT-VKSLX-HS, ngày 25/7/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo phạm tội nhưng đã bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, đề nghị của Viện kiểm sát thành phố Long Xuyên cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội bồi thường thiệt hại”, “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo” được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015 là có căn cứ nên được chấp nhận.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Lẽ ra khi xảy ra sự việc bị cáo có thể lựa chọn nhiều giải pháp khác nhau để giải quyết mâu thuẫn nhưng bị cáo lại lựa chọn biện pháp tiêu cực là huỷ hoại tài sản của người khác. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu được pháp luật bảo vệ. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm để giáo dục ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống. Giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Tình hình tài chính, khả năng thi hành án của bị cáo Hội đồng xét xử thấy hình phạt tiền theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo cũng đủ tính răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận tiền bồi thường và không có yêu cầu bồi thường thêm nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: 01 con dao bằng kim loại, mũi nhọn, cán bằng gỗ, dài 43cm; lưỡi dài 26cm, cán dài 17cm, nơi rộng nhất 6,5cm là công cụ dùng vào việc phạm tội không có giá trị nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu huỷ.
Đối với đề nghị của người bào chữa, cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là không đúng do hành vi phạm tội của bị cáo trên thực tế đã gây thiệt hại cho bà H và ông Ni về tài sản có giá trị 7.388.800 đồng.
Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định “Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:...............”.
Mức thiệt hại 7.388.800 đồng là nhiều hơn gấp 3,5 lần giá trị thấp nhất quy định tại Điều 178 sẽ bị xem xét xử phạt hình sự nên đề nghị của người bào chữa cho bị cáo là không đúng nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với yêu cầu áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xử phạt bị cáo 10.000.000 đồng. Tuy nhiên, mức hình phạt Kiểm sát viên đề nghị từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng thuộc khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Mức hình phạt người bào chữa đề nghị 10.000.000 đồng vẫn nằm trong khung hình phạt của khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), không thuộc trường hợp quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng quy định tại Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên đề nghị của người bào chữa là không phù hợp với quy định pháp luật. Tuy nhiên, việc có áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét hình phạt cho bị cáo không sẽ được Hội đồng xét xử cân nhắc trong khi xem xét hình phạt cho bị cáo.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 35 BLHS năm 2015 tuyên bố bị cáo Phan Thị Hồng C phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Xử phạt bị cáo Phan Thị Hồng C 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng.
2/ Căn cứ Điều 47 BLHS năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) con dao bằng kim loại, mũi nhọn, cán bằng gỗ, dài 43cm; lưỡi dài 26cm, cán dài 17cm, nơi rộng nhất 6,5cm (Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự, thành phố Long Xuyên ngày 03/8/2022).
3/ Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Phan Thị Hồng C chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4/ Căn cứ Điều 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV-THA, TAND tỉnh An Giang; - VKSND tỉnh An Giang; - VKSND TP. Long Xuyên; - Chi cục THADS TP. Long Xuyên; - Nhà tạm giữ - CA TP. Long Xuyên; - Sở Tư pháp tỉnh AG; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu VP; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Bé Thu |