- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn văn T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2022/HS- ST. Ngày: 30/12/2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Lê Văn Học - Cán bộ hưu trí;
- Bà Nguyễn Thị Hồng Minh - Nguyên Phó bí thư huyện đoàn huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Diệu Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình,
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lệ Thủy tham gia phiên tòa: Ông Dương Đại Phong, Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 65/2022/HSST ngày 28 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2022/QĐXX-ST ngày 15 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo: Nguyễn Văn T; tên gọi khác: Không; sinh ngày 04 tháng 5 năm 1999 tại huyện L, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh 1974 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1976; vợ, con: Chưa có, tiền án; tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/10/2022 cho đến nay, có mặt.
- Bị hại: Anh Nguyễn Đức V, sinh ngày 18/12/2005; địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt có lý do.
- Người giám hộ cho anh Nguyễn Đức V: Bà Hoàng Thị T (mẹ của anh V), sinh năm 1977; trú tại: Thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 14/10/2022, Nguyễn Văn T đi bộ từ nhà mình ở thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Quảng Bình đến nhà chị Hoàng Thị T ở cùng thôn để trộm cắp tài sản. Khi đến, T trèo qua cửa sổ vào phòng ngủ của anh Nguyễn Đức V, sinh năm 2005 (con chị T) thấy điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphon 11 Promax màu đen của V đang sạc pin để trên bàn máy tính. T lấy trộm bỏ vào túi quần rồi đưa về nhà cất giấu trong ba lô của mình. Đến sáng ngày 15/10/2022 thì bị Công an xã H phát hiện, tạm giữ tang vật.
Ngày 18/10/2022, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Lệ Thủy, định giá và kết luận: Điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphon 11 Promax màu đen giá trị 10.500.000 đồng.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng:
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lệ Thủy đã tạm giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphon 11 Promax màu đen, có đặc điểm mô tả như biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu ngày 15/10/2022.
* Xử lý vật chứng: Ngày 21/10/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphon 11 Promax màu đen cho anh Nguyễn Đức V theo đúng quy định của pháp luật.
Về dân sự: Bị hại anh Nguyễn Đức V đã nhận lại tài sản bị mất và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Bản Cáo trạng số 65/CT- VKSNDLT ngày 28/11/2022, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lệ Thủy truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Qua tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphon 11 Promax màu đen cho Nguyễn Đức V theo đúng quy định của pháp luật nên không đề nghị xem xét.
Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị mất và không yêu cầu bồi thường nên không đề nghị xem xét.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lệ Thủy, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lệ Thủy, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Chứng cứ xác định có tội và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại cũng như các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án do cơ quan điều tra đã thu thập, đủ cơ sở kết luận: Ngày 14/10/2022, Nguyễn Văn T đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của anh Nguyễn Đức V 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 11 Promax màu đen có giá trị 10.500.000 đồng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lệ Thủy và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.
. Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội, bị cáo luôn tỏ thái độ thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Mặc dù tại phiên tòa người bị hại vắng mặt nhưng trong quá trình điều tra, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo:
Hội đồng xét xử nhận thấy, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có sức khỏe nhưng đã có hành vi lén lút trộm cắp điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 11 Promax của anh Nguyễn Đức V có trị giá 10.500.000 đồng, hành vi của bị cáo gây tâm lý hoang mang, lo lắng, bất bình trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 và 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhất trí áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trên để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật, xét thấy chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú để giám sát, giáo dục là vừa phải, nhằm tạo cho bị cáo có điều kiện để chăm sóc gia đình, đồng thời tự cải tạo rèn luyện bản thân trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội là phù hợp với Điều 65 của Bộ luật hình sự cũng như ý kiến, phân tích và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho người bị hại, theo đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Quyền kháng cáo: Bị cáo, đương sự có quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng, thời hạn chấp hành án treo tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (30/12/2022).
Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện L, tỉnh Quảng Bình, giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã H, huyện L, tỉnh Quảng Bình, giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người bị kết án đang chấp hành thời gian thử thách vắng mặt, thay đổi nơi cư trú hoặc làm việc thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Xử bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (30/12/2022); đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm./. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Sở Tư pháp;
- TAND tỉnh Quảng Bình;
(Đã ký)
- Công an huyện Lệ Thủy;
- VKSND huyện Lệ Thủy;
- Chi cục THA h. Lệ Thủy;
- Bị hại;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Thị Thu Hương
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC THÀNH VIÊN
THẨM PHÁN ‘
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Sở Tư pháp;
- TAND tỉnh Quảng Bình;
- Công an huyện Lệ Thủy;
- VKSND huyện Lệ Thủy;
- Chi cục THA h. Lệ Thủy;
Nguyễn Thị Thu Hương
- Bị hại;
- Lưu hồ sơ vụ án.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC THÀNH VIÊN
THẨM PHÁN ‘
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Sở Tư pháp; - TAND tỉnh Quảng Bình; - Công an huyện Lệ Thủy; - VKSND huyện Lệ Thủy; - Chi cục THA h. Lệ Thủy; - UBND xã An Thủy; - Bị hại; người có QLNVLQ; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hương |