vanban.org

Bản án 66/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An Tuyên án 23/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về điều luật áp dụng và tội danh:

Tuyên bố bị cáo Lô Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Lô Văn H 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 23/6/2022). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Án Lô Văn H-Trộm cắp tài sản - Khoản 1 Điều 173 BLHS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
  • Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng và tội danh:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KỲ SƠN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2022/HS-ST
Ngày 23 tháng 6 năm 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Vi Thị Khuyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Moong Thái Nhi;

Ông Nguyễn Xuân Quỳnh.

- Thư ký phiên toà: Ông Đào Quang Sáng-Thư ký Toà án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ Antham gia phiên tòa: Ông Hoàng Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 62/2022/TLST-HS, ngày 13 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2022/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2022 đối với:

Bị cáo: Lô Văn H; tên gọi khác: Không; sinh ngày 12/4/2001 tại xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Bản X, xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lô Văn O và bà Hoàng Thị A; Vợ, con: chưa có; tiền sự, tiền án: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/3/2022 cho đến nay; hiện đang tạm giam; Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Lô Văn H: Ông Lê Công Thiết; Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt.

Bị hại: Anh Xeo Văn T; sinh ngày 01/01/2004; nơi cư trú: Bản H, xã N, huyện K, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Không có lý do).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Vừ Bá L; sinh ngày 03/11/2005; nơi cư trú: Bản N, xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Không có lý do).

Người đại diện hợp pháp cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Vừ Bá L: Ông Vừ Nhìa P (Bố của L); nơi cư trú: Bản N, xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Không có lý do).

2. Anh Võ Xuân B; sinh năm 1976; nơi cư trú: K2, thị trấn M, huyện K, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Không có lý do).

3. Chị Hoàng Thị A, sinh năm 1982; nơi cư trú: Bản X, xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ, ngày 08/3/2022, Lô Văn H đang ở nhà của mình thì có một thanh niên không quen biết tự giới thiệu tên Đ (hay Đ), trú tại bản N2, xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An đến chơi, sau đó người này rủ H lên thị trấn M để trộm cắp tài sản đem bán lấy tiền tiêu xài thì H đồng ý. H điều khiển xe máy nhãn hiệu CUBJIPAND 50, màu sơn xanh- trắng, BKS: 37KA- 004.32 chở thanh niên kia đi lên khu vực thị trấn M. Trên đường đi, người đó nói với H “Lên đến nơi thì em cứ đi vào trộm, trộm được thì để anh đi bán cho”. Khi lên đến thị trấn M, Hiếu và thanh niên đi đến khu vực nhà trọ TH (thuộc k4, thị trấn M, huyện K, tỉnh Nghệ An), thanh niên kia đứng ngoài chờ còn H đi bộ đến phòng trọ của Vừ Bá L thì thấy cửa phòng đang mở, bên trong không có người và có 01 (một) chiếc điện thoại di động HONOR 8A, màu đenđang cắm sạc trên nồi cơm điện. Sau khi quan sát xung quanh không thấy ai, H lẻn vào trong phòng lấy chiếc điện thoại bỏ vào túi quần rồi chạy ra ngoài. Sau khi lấy trộm được chiếc điện thoại, thanh niên kia chở H đến cửa hàng điện thoại BT (K2, thị trấn M, huyện K, tỉnh Nghệ An) để bán, H đứng ở ngoài đường chờ còn thanh niên kia đưa điện thoại vào bán được số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn). Sau khi bán điện thoại thấy số tiền ít quá nên thanh niên kia rủ Hiếu tiếp tục đi trộm tài sản thì H đồng ý.

Sau đó, H và thanh niên kia đến khu vực nhà trọ HV (thuộc khối 4, thị trấn M, huyện K, tỉnh Nghệ An). Khi đến nơi, người thanh niên đứng ngoài chờ còn H đi lên tầng 2 của dãy trọ thì thấy phòng của Xeo Văn T mở cửa, không có ai ở trong phòng và có 01 (một) chiếc điện thoại màu đen, nhãn hiệu SAMSUNG A10S đang cắm sạc trên giường, H đã lẻn vào lấy trộm chiếc điện thoại rồi chạy ra ngoài. Sau đó, thanh niên kia chở H đi đến cầu cấp 3 (thuộc khối 4, thị trấn M) rồi nói H xuống xe đứng chờ để người này đưa chiếc điện thoại đến quán BT bán thì H đồng ý. Người thanh niên đó đi một lúc sau quay lại nói với H chiếc điện thoại bán được số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn).

Số tiền bán điện thoại, H và thanh niên kia đã tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 10/3/2022, Lô Văn H đã đến Công an thị trấn M, huyện Kỳ Sơn đầu thú về hành vi của mình.

Kết luận định giá tài sản số 02/KL-ĐGTS ngày 16/3/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An đã kết luận:

01 (một) chiếc điện thoại di động SAMSUNG A10S, màu đen, số IMEI 1: 352123114694627, số IMEI 2: 352124113444626, máy đã qua sử dụng có giá là: 2.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai triệu đồng).

01 (một) chiếc điện thoại di động HONOR 8A, màu đen, máy đã qua sử dụng có giá là: 1.400.000 đồng (Bằng chữ: Một triệu bốn trăm nghìn đồng).

Tại Cơ quan điều tra, Lô Văn H đã thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội của mình, mục đích lấy trộm 02 (hai) chiếc điện thoại là để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Đối với thanh niên tên Đài (hay Đại), Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, tuy nhiên tại bản Na Lượng 2, xã Hữu Kiệm không có ai tên Đài (hay Đại) như Lô Văn H khai nên không có căn cứ để xử lý.

Về vật chứng của vụ án:

01 (một) chiếc điện thoại di động SAMSUNG A10S, màu đen, số IMEI 1: 352123114694627, số IMEI 2: 352124113444626 là vật chứng vụ án đã được Cơ quan điều tra trả lại cho anh Xeo Văn T.

Đối với 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu CUBJIPAND 50, màu sơn xanh-trắng, BKS: 37KA- 004.32, số máy RL9SM1P 39SMB - C007056, số khung RL9CCB4U MKBG 07056 mà Lô Văn H sử dụng để đi trộm cắp tài sản. Quá trình điều tra xác định, chiếc xe thuộc sở hữu của chị Hoàng Thị A, chị Ánh không biết việc Lô Văn H sử dụng chiếc xe máy để đi trộm cắp tài sản nên ngày 03/4/2022 Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Hoàng Thị A.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại anh Xeo Văn T đã nhận lại 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A10S, màu đen bị mất trộm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Vừ Bá L đã nhận đủ số tiền 1.400.000 đồng (Một triệu bốn trăm nghìn) tương đương giá trị chiếc điện thoại di động HONOR 8A, màu đen mà anh Lử bị mất trộm nên anh Tiến và anh Lử không có yêu cầu gì thêm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Võ Xuân B là người đã giao nộp lại chiếc điện thoại SAMSUNG A10S cho Cơ quan điều tra, anh Bảy không yêu cầu Lô Văn H phải bồi thường gì thêm.

Cáo trạng số 40/CT-VKS-HS ngày 04/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An truy tố Lô Văn H về tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lô Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lô Văn H mức án từ 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 (Mười hai) tháng đến 18 (Mười tám) tháng; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa; về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm nên miễn xét; về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo không tranh luận gì về tội danh và điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng sâu vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, trình độ dân trí thấp, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo mức án thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị, cho bị cáo được hưởng án treo và miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo Lô Văn H đồng ý với nội dung bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không có tranh luận gì. Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Điều tra viên; Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp và đúng quy định pháp luật.

Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt bị hại Xeo Văn T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Vừ Bá L, đại diện hợp pháp của Vừ Bá L (ông Vừ Nhìa P, Bố của L) và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Võ Xuân B, tuy nhiên quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ vụ án và không có yêu cầu gì thêm. Tại phiên tòa, Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo và đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến gì và không đề nghị hoãn phiên tòa để triệu tập những người này. Xét thấy sự vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử, nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử là có căn cứ, đúng quy định tại Điều 292, Điều 305 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay cũng như trong quá trình điều tra, bị cáo Lô Văn H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng11 giờ 15 phút, ngày 08/3/2022, tại nhà trọ TH (thuộc khối 4, thị trấn M, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An) Lô Văn H đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 (một) chiếc điện thoại di động HONOR 8A, màu đen của anh Vừ Bá L, chiếc điện thoại được Hội đồng định giá tài sản-UBND huyện Kỳ Sơn định giá 1.400.000 đồng (Một triệu, bốn trăm nghìn) và khoảng 13 giờ, ngày 08/3/2022, tại khu vực nhà trọ HV (khối 4, thị trấn M, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An), Lô Văn H có hành vi lén lút lấy trộm 01 (một) chiếc điện thoại di động SAMSUNG A10S, màu đen của anh Xeo Văn T, chiếc điện thoại được Hội đồng định giá tài sản-UBND huyện Kỳ Sơn định giá 2.000.000 đồng (Hai triệu). Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân người phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an trên địa bàn, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo tuổi đời còn trẻ, là người có đủ năng lực để nhận thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì lười lao động lại muốn có tiền để tiêu xài nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Việc truy tố và xét xử bị cáo là cần thiết, hành vi đó phải được xử lý nghiêm minh, cần tuyên phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện, có như vậy mới đủ điều kiện để vừa tiếp tục cải tạo, giáo dục riêng bị cáo vừa răn đe phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, xét các tình tiết giảm nhẹ thấy rằng bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra, truy tố và xét xử thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại, sau khi nhận thấy hành vi của mình là sai trái bị cáo đã đến cơ quan chức năng để đầu thú, nên cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo giáo dục tại địa phương cũng đủ nghiêm và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân là có căn cứ, cần chấpnhận.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo là có căn cứ.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động SAMSUNG A10S, màu đen, số IMEI 1: 352123114694627, số IMEI 2: 352124113444626 là vật chứng vụ án đã được Cơ quan điều tra trả lại cho anh Xeo Văn T là đúng quy định pháp luật nên miễn xét.

Đối với 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu CUBJIPAND 50, màu sơn xanh-trắng, BKS: 37KA- 004.32, số máy RL9SM1P 39SMB - C007056, số khung RL9CCB4U MKBG 07056 mà Lô Văn H sử dụng để đi trộm cắp tài sản. Quá trình điều tra xác định, chiếc xe thuộc sở hữu của chị Hoàng Thị A, chị Ánh không biết việc Lô Văn H sử dụng chiếc xe máy để đi trộm cắp tài sản nên ngày 03/4/2022 Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Hoàng Thị A là có căn cứ, đúng quy định pháp luật nên miễn xét.

Các đối tượng liên quan: Đối với người đàn ông tên Đài (hay Đại) cùng đi trộm cắp với bị cáo, quá trình điều tra, xác minh không xác định được tên tuổi, địa chỉ, danh tính, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.

Đối với anh Võ Xuân B là người đã mua hai chiếc điện thoại trộm cắp khi mua không biết điện thoại là do bị cáo trộm cắp mà có nên không có cơ sở để xử lý. Anh Bảy đã giao nộp lại chiếc điện thoại SAMSUNG A10S cho Cơ quan điều tra, anh Bảy không yêu cầu Lô Văn H phải bồi thường gì thêm nên miễn xét.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị trộm cắp đã được trả lại cho bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận đầy đủ tiền bồi thường thiệt hại không yêu cầu gì thêm nên miễn xét.

Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật áp dụng và tội danh:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lô Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lô Văn H 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 23/6/2022).

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lô Văn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo Lô Văn H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hoàng Thị A có quyền kháng cáo bản án đối với phần có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 23/6/2022). Bị hại Xeo Văn T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Vừ Bá L, đại diện hợp pháp của Vừ Bá L (ông Vừ Nhìa P, Bố của L) và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Võ Xuân B vắng mặt có quyền kháng cáo bản án đối với phần có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.

Cỡ chữ