vanban.org

Bản án 66/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 15/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Đặng Minh T phạm tội Cố ý gây thương tích. Xử phạt: Bị cáo Đặng Minh T 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam, ngày 10/4/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án số: 66/2022/HS-ST. - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2022/HS-ST.
Ngày 15/9/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH TUYÊN QUANG.

- Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương T Huyền

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Văn Bốn

2. Bà Phan Thị Bích

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Hoàng Kỳ Khôi – Thư ký Toà án nhân dân Huyện H.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện H tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vương - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện H, tỉnh Tuyên Quang mở phiên toà sơ thẩm xét xử theo hình thức trực tuyến, công khai vụ án hình sự thụ lý số 63/2022/TLST-HS, ngày 26 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2022/QĐXXST-HS, ngày 01 tháng 9 năm 2022, đối với bị cáo:

Họ và tên: Đặng Minh T, sinh ngày 10/5/1989; nơi sinh: Huyện H, tỉnh

Tuyên Quang.

Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Thôn Xít Xa, xã M, Huyện H, tỉnh Tuyên Quang;

Dân tộc: Dao; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 12/12; con ông Đặng Văn B, sinh năm 1958 và bà Triệu Thị L, sinh năm 1961; anh, chị, em ruột: Có 04 người, bị cáo là thứ tư; vợ: Triệu Thị H, sinh năm 1990 (đã chết), là bị hại trong vụ án; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2015 nhỏ sinh năm 2018;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/4/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang.

(Có mặt tại phiên tòa).

* Bị hại: Chị Triệu Thị H, sinh năm 1990 (đã chết);

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Triệu Văn T, sinh năm 1965 (bố đẻ của chị Triệu Thị H); địa chỉ: Thôn 1 Minh Tiến, xã M, Huyện H, tỉnh Tuyên Quang.

(Có mặt tại phiên tòa)

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Đặng Văn B, sinh năm 1958.

Địa chỉ: Thôn Xít Xa, xã M, Huyện H, tỉnh Tuyên Quang;

(Có mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 10/4/2022, Đặng Minh T sinh năm 1989, trú tại thôn Xít Xa, xã M, Huyện H, tỉnh Tuyên Quang đi uống rượu về. Về đến nhà, T và vợ là chị Triệu Thị H sinh năm 1990 xảy ra mâu thuẫn cãi, chửi nhau. Lúc này chị H ngồi trên ghế nhựa cạnh bàn uống nước ở gian giữa nhà kê sát vách tường nhà bằng phên tre, T đến gần đứng đối diện chị H, lúc này chị H đứng dậy, tay trái T vung từ dưới lên trên từ trái sang phải dùng bàn tay tát trúng vào má trái của chị H. Bị đánh, chị H cúi người cầm lấy ghế vừa ngồi dơ lên thì T giằng được để ra phía sau người mình sau đó tay trái T cầm lấy tay trái chị H, tay phải T vung từ dưới lên trên từ phải sang trái dùng bàn tay tát trúng má trái của chị H liên tiếp 03 lần, làm chị H lùi về phía vách tường nhà, chị H cúi xuống lấy chiếc phích nước để dưới gầm bàn cầm lên thì T giằng được để xuống đất sau đó hai người tiếp tục cãi, chửi nhau. Được một lúc, do bực tức T cầm 01 chiếc chén bằng sứ màu trắng đường kính miệng chén 6,2cm, cao 4,5cm ở trên bàn uống nước, đứng đối diện cách chị H khoảng 1,5m, cầm chén bằng tay phải đưa lên ngang đầu ném mạnh từ sau ra trước về phía chị H. Chị H thấy T cầm chén ném, liền xoay người và quay đầu đi để tránh thì chiếc chén trúng vào vùng chẩm phải của chị H. Sau khi ném T quay người đi ra cửa được khoảng 02m thì nghe thấy tiếng bàn đổ trong nhà, T quay lại thấy chị H bị ngã nằm bất động trên nền nhà chiếc bàn đổ đè lên người chị H. T đến kiểm tra thấy chị H đã bất tỉnh nên hô hào hàng xóm đến giúp đưa chị H đi cấp cứu. Khi chị H được đưa đến Trung tâm Y tế Huyện H thì được xác định là đã chết. Còn T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện H để đầu thú.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 444/KL-KTHS ngày 12/4/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang đối với tử thi Triệu Thị H, kết luận:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Vùng đầu, hai chân có các vết bầm tím, rách da.

- Chấn thương sọ não: Vùng chẩm phải có vết bầm tím tụ máu. Não phù, chảy máu toàn bộ màng mềm hai bán cầu đại não, các não thất có nhiều máu không đông lẫn các dải máu đông.

2. Nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não.

3. Kết luận khác:

- Vị trí, đặc điểm dấu vết trên thân thể đã mô tả ở trên.

- Cơ chế gây thương tích: Chấn thương bầm tím tụ máu vùng chẩm phải do va đập với vật tày gây ra, lực tác động đột ngột, đủ mạnh dẫn đến chảy máu màng mềm.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về mô bệnh học (vi thể) số 449/KL-KTHS ngày 12/4/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận đối với mẫu mô của tử thi Triệu Thị H:

- Da: Tổ chức dưới da chảy máu, có chỗ hồng cầu đông vón thành đám.

- Não và màng não: Chảy máu, tụ máu màng não. Não phù.

Tại Cáo trạng số 62/CT-VKSHY, ngày 24 tháng 8 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện H, tỉnh Tuyên Quang, đã truy tố Đặng Minh T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Đặng Minh T về tội “Cố ý gây thương tích”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 4 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Đặng Minh T từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 chén sứ và những mảnh sành vỡ; Trả lại số tiền 10.000.000 đồng cho ông Đặng Văn B. Ngoài ra, đề nghị Hội đồng xem xét về án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo, không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của Viện kiểm sát. Khi nói lời sau cùng bị cáo nhận thức sâu sắc hành vi phạm tội của mình là trái pháp luật, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo xin lỗi gia đình bị hại, xin lỗi những người thân trong gia đình bị cáo và xin lỗi các con của bị cáo và đề nghị hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường, không nhận tiền bồi thường của gia đình bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ông Đặng Văn Bà trình bày: Số tiền 10.000.000 đồng là tiền của ông bồi thường thay cho bị cáo, gia đình bị hại không nhận ông đề nghị được lấy lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an Huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, thực hiện việc xét hỏi, tranh tụng đúng quy định tại các Điều 289, 306, 315, 320, 321, 322 của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa; căn cứ biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, vật chứng thu giữ được, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến sự việc, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Các tài liệu, chứng cứ hoàn toàn phù hợp và đủ cở sở kết luận: Khoảng 13 giờ ngày 10/4/2022, tại thôn Xít Xa, xã M, Huyện H, tỉnh Tuyên Quang, Đặng Minh T sinh năm 1989, trú tại thôn Xít Xa, xã M, Huyện H do bực tức, đã có hành vi dùng chén bằng sứ đường kính miệng chén 6,2cm, cao 4,5cm ném trúng vùng chẩm phải của chị Triệu Thị H, sinh năm 1990 (vợ bị cáo T). Hậu quả chị H bị chấn thương sọ não dẫn đến chết. Hành vi cố ý dùng chén bằng sứ ném gây thương tích cho bị hại dẫn đến việc bị hại chết mà bị cáo thực hiện đã phạm vào tội Cố ý gây thương tích, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân Huyện H truy tố bị cáo như nội dung Cáo trạng là hoàn toàn đúng người, đúng tội, có căn cứ, không oan.

Hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức, bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi dùng chén sứ ném vào người bị hại sẽ gây tổn hại về sức khỏe cho người bị hại, là hành vi trái pháp luật. Nhưng vì bực tức cá nhân do mâu thuẫn vợ chồng, nguyên nhân mâu thuẫn xuất phát từ phía bị cáo trước, mà bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo và bị hại là hai vợ chồng, xích mích vợ chồng nguyên nhân xuất phát từ việc bị cáo đi uống rượu về cãi, chửi nhau, tát vợ. Không có mâu thuẫn gì sâu sắc, bị hại không làm cho bị cáo bức xúc hay kích động gì lớn mà bị cáo cố ý dùng chén ném về phía bị hại gây thương tích và dẫn đến cái chết của bị hại. Hành vi phạm tội bị cáo thực hiện có tính chất côn đồ, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội mà mình đã thực hiện; bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đến Cơ quan Công an để đầu thú. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, cần áp dụng để xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội, tạo điều kiện cho họ có động lực cải tạo tốt.

Mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên chấp nhận.

Về phần trách nhiệm dân sự: Gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện H đã thu giữ 01 chén sứ màu trắng, trên chén có in hình bông hoa màu hồng, chén cũ đã qua sử dụng; 01 mặt bàn hình chữ nhật kích thước (60x120x02) cm, đã qua sử dụng; 01 khung bàn bằng kim loại cao 60 cm đã qua sử dụng, các mảnh vỡ của ấm sứ màu xanh nhạt.

Ngày 04/7/2022 đã trả lại mặt bàn và khung bàn cho người được giao quản lý tài sản ông Đặng Văn B (bố đẻ Đặng Minh T). Việc trả lại tài sản phù hợp với quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với 01 chén sứ màu trắng và các mảnh vỡ của ấm sứ màu xanh nhạt, cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định.

Trả lại cho ông Đặng Văn B số tiền 10.000.000 đồng.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Đặng Minh T phạm tội Cố ý gây thương tích.

Xử phạt: Bị cáo Đặng Minh T 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam, ngày 10/4/2022.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 chén sứ màu trắng, trên chén có in hình bông hoa màu hồng, chén cũ đã qua sử dụng; các mảnh vỡ của ấm sứ màu xanh nhạt.

Trả lại cho ông Đặng Văn B số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng).

(Tình trạng vật chứng như Biên bản giao, nhận giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện H với Chi cục Thi hành án dân sự Huyện H ngày 05/9/2022; số tiền 10.000.000 đồng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện H đã chuyển vào tài khoản tạm gửi của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện H tại Kho bạc Nhà nước Huyện H theo Uỷ nhiệm chi số 26 ngày 06/9/2022)

4. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Đặng Minh T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương T Huyền Phan Thị Bích – Hoàng Văn Bốn

Cỡ chữ