vanban.org

Bản án 66/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Đặng Thị S về việc ly hôn với ông Bùi Hoàng L.

Về con chung: Giao cho bà Đặng Thị S nuôi dạy cháu Bùi Gia Phúc, sinh ngày 27/6/2011, ông Bùi Hoàng L có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung 1.500.000đồng/tháng. Thời hạn cấp dưỡng tính kể từ ngày tuyên án (ngày 24/3/2022) đến khi người được cấp dưỡng đủ 18 tuổi. Ông Bùi Hoàng L không trực tiếp nuô… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Đặng Thị S về việc ly hôn với ông Bùi Hoàng L.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 24-3-2022
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Huệ

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hồ Quang Minh

Ông Văn Công Trọn

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Tuyết Ngân. Là thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Trong ngày 24 tháng 3 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 377/2021/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2021 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2022/QĐXXST – HNGĐ ngày 09 tháng 02 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Đặng Thị S, sinh năm 1984. (Xin vắng)

Địa chỉ: Ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau

2. Bị đơn: Ông Bùi Hoàng L, sinh năm 1978. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 22 tháng 02 năm 2021, bà Đặng Thị S trình bày:

Về hôn nhân: Bà Đặng Thị S và ông Bùi Hoàng L kết hôn vào năm 2009, hôn nhân tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã Khánh Hải, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. Do vợ chồng bất đồng quan điểm, hôn nhân không hạnh phúc. Nay bà Đặng Thị S yêu cầu xin ly hôn với ông Bùi Hoàng L.

Về con chung: Có 01 con chung là Bùi Gia Phúc, sinh ngày 27/6/2011, hiện đang do bà S trực tiếp nuôi dạy. Bà Đặng Thị S yêu cầu được nuôi con chung, yêu cầu ông Bùi Hoàng L cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng đến khi cháu Phúc đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Ngày 09/3/2022, bà Đặng Thị S có yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt bà Đặng Thị S.

Đối với ông Bùi Hoàng L, mặc dù đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ ông Bùi Hoàng L để giải quyết vụ án nhưng ông Bùi Hoàng L đều vắng mặt và không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị S.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Tranh chấp giữa bà Đặng Thị S và ông Bùi Hoàng L là tranh chấp về ly hôn, bị đơn là ông Bùi Hoàng L có nơi cư trú tại huyện Trần Văn Thời nên bà Đặng Thị S khởi kiện yêu cầu giải quyết vụ án tại Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đối với việc đề nghị vắng mặt của bà Đặng Thị S, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà Đặng Thị S theo quy định.

Đối với việc vắng mặt của ông Bùi Hoàng L, mặc dù đã được Tòa án triệu tập nhiều lần đến Tòa án để giải quyết vụ án nhưng ông Bùi Hoàng L vẫn không có ý kiến phản hồi đồng thời cũng không có mặt để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông Bùi Hoàng L theo quy định.

Về hôn nhân: Bà Đặng Thị S và ông Bùi Hoàng L xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2009, có đăng ký kết hôn và đủ điều kiện kết hôn theo luật định nên hôn nhân được chấp nhận là hợp pháp và được pháp luật công nhận, bảo vệ. Tuy nhiên, bà Đặng Thị S cho rằng vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, hôn nhân không hạnh phúc. Ông Bùi Hoàng L cũng không có ý kiến thể hiện nguyện vọng hàn gắn mối quan hệ hôn nhân cùng bà Đặng Thị S. Xét thấy mối quan hệ hôn nhân giữa bà Đặng Thị S và ông Bùi Hoàng L không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Đặng Thị S ly hôn với ông Bùi Hoàng L là có căn cứ.

Về con chung: Bà Đặng Thị S có nguyện vọng được nuôi con chung. Tại biên bản làm việc ngày 09 tháng 3 năm 2022, cháu Bùi Gia Phúc thể hiện nguyện vọng được chung sống cùng bà Đặng Thị S. Đồng thời cháu Bùi Gia Phúc cũng đang sinh sống ổn định cùng với bà Đặng Thị S, cháu Phúc còn ít tuổi cũng rất cần có sự chăm sóc giáo dục của người mẹ nên giao cháu Phúc cho bà Đặng Thị S nuôi dạy là phù hợp.

Bà Đặng Thị S yêu cầu ông Bùi Hoàng L cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy, ông Bùi Hoàng L không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con là phù hợp. Tuy nhiên mức cấp dưỡng bà Đặng Thị S đặt ra chưa thật sự phù hợp. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét điều chỉnh mức cấp dưỡng để vừa đảm bảo được một phần chi phí thiết yếu cho sinh hoạt của cháu Phúc, cũng đảm bảo việc thực hiện được đối với người có thu nhập trung bình. Vì vậy, buộc ông Bùi Hoàng L phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 1.500.000đồng/tháng là có căn cứ.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có yêu cầu, không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, ông Bùi Hoàng L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm của người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Đặng Thị S về việc ly hôn với ông Bùi Hoàng L.

2. Về con chung: Giao cho bà Đặng Thị S nuôi dạy cháu Bùi Gia Phúc, sinh ngày 27/6/2011, ông Bùi Hoàng L có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung 1.500.000đồng/tháng. Thời hạn cấp dưỡng tính kể từ ngày tuyên án (ngày 24/3/2022) đến khi người được cấp dưỡng đủ 18 tuổi. Ông Bùi Hoàng L không trực tiếp nuôi con được quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở.

Kể từ ngày bà Đặng Thị S có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Bùi Hoàng L không tự nguyện thi hành xong khoản tiền cấp dưỡng nuôi con thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.

3. Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và gia đình, bà Đặng Thị S phải chịu 300.000 đồng. Ngày 09 tháng 7 năm 2021, bà Đặng Thị S đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005142 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được đối trừ chuyển thu. Ông Bùi Hoàng L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm của người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, chưa nộp.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bà Đặng Thị S, ông Bùi Hoàng L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ