vanban.org

Bản án 66/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

2014; các Điều 144, 147, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lưu Thị Hồng T. Về hôn nhân: Bà Lưu Thị Hồng T được ly hôn với ông Bùi Văn D. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 2014; các Điều 144, 147, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 66/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 19/4/2022
“V/v tranh chấp hôn nhân và gia
đình ly hôn, tranh chấp về
nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Thúy.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trịnh Văn Bé;

2. Ông Phan Tấn Tài.

Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Lắm, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham

gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Lợi - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới

xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 516/2021/TLST-

HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2021 về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình ly

hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số

102/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lưu Thị Hồng T, sinh năm 1981; địa chỉ: ấp T, xã M,

huyện C, tỉnh An Giang; địa chỉ liên hệ: số 617, tổ 26, ấp T, xã M, huyện C, tỉnh

An Giang; có mặt.

Bị đơn: Ông Bùi Văn D, sinh năm 1979; địa chỉ: ấp T, xã M, huyện C,

tỉnh An Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ

án, nguyên đơn bà Lưu Thị Hồng T trình bày, do tự tìm hiểu nhau, bà T và ông

D kết hôn vào năm 2004, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện

C, tỉnh An Giang vào ngày 04/5/2005. Trong thời gian chung sống, vợ chồng có sinh 02 con chung tên Bùi Phú L, sinh ngày 29/7/2004; Bùi Thị Tường V, sinh ngày 18/02/2009. Hiện tại, 02 con chung đang được bà T nuôi dưỡng.

Trong thời gian chung sống, bà T, ông D thường xuyên xảy ra mâu thuẫn,

cãi vã do bất đồng quan điểm, ông D không lo làm ăn, tính tình không phù hợp. Vợ chồng không còn sống chung từ năm 2020 cho đến nay.

Do tình cảm vợ chồng không còn nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông

D; yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung tên Bùi Phú L, sinh ngày 29/7/2004; Bùi Thị Tường V, sinh ngày 18/02/2009, không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi dạy con chung; không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết về tài sản chung, nợ chung.

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu

cầu khởi kiện: Giấy chứng nhận kết hôn số 67, quyển 01, ngày 04/5/2005 do Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho ông Bùi Văn D và bà Lưu Thị Hồng T (bản chính); giấy khai sinh số 131, ngày 04/5/2005 do Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho Bùi Phú L (bản sao); giấy khai sinh số 107, ngày 03/4/2009 do Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho Bùi Thị Tường V (bản sao).

- Bị đơn ông Bùi Văn D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng

mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa,

- Nguyên đơn trình bày ý kiến, yêu cầu như đã cung cấp trong giai đoạn

chuẩn bị xét xử và xác định không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp thêm.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án

trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn

đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân, bà T và ông D kết hôn, có

đăng ký kết hôn nên quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông D hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và không còn sống chung từ năm 2020 cho đến nay.

Do tình cảm vợ chồng không còn nên bà T yêu cầu ly hôn với ông D. Bà

T, ông D không tạo điều kiện cho nhau hàn gắn hạnh phúc. Do đó, đề nghị Hội

đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông D theo Điều 56 Luật

Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về con chung, đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà T, giao cháu Lộc, cháu

Vy cho bà T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con, do bà T không có ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi

con nên đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật

Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông D; bà T

được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung Bùi Phú L, sinh ngày

29/7/2004; Bùi Thị Tường V, sinh ngày 18/02/2009; ông D không phải cấp

dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Bà Lưu Thị Hồng T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Bùi Văn D. Đồng

thời, ông D cư trú trên địa bàn huyện Chợ Mới. Xét đây là tranh chấp về hôn

nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ

Mới theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a

khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Bùi Văn D đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng

mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông D theo quy định tại

khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân:

Bà T và ông D tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định của

pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông D là hợp pháp, được pháp luật

thừa nhận và bảo vệ.

Bà T xác định, trong thời gian chung sống, vợ chồng thường xuyên mâu

thuẫn, cãi vã do bất đồng quan điểm, lối sống không phù hợp và không còn sống

chung từ năm 2020 cho đến nay.

Xét thấy, xuất phát từ mâu thuẫn trong thời gian chung sống, bà T và ông

D thường xuyên cãi vã và không còn sống chung từ năm 2020. Vợ chồng không

quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Bên cạnh đó, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo

thụ lý vụ án cho ông D nhưng ông D không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn

của bà T. Cho nên, có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa bà T, ông D là trầm

trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông D theo

quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về con chung: Bà T xác định trong thời gian chung sống, vợ chồng

có sinh 02 con chung Bùi Phú L, sinh ngày 29/7/2004; Bùi Thị Tường V, sinh ngày 18/02/2009.

Xét thấy, con chung đang được bà T chăm sóc, nuôi dưỡng, phát triển ổn

định. Do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho con chung, giúp cháu Lộc, Vy phát triển tốt về thể chất, tinh thần, hơn nữa trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án ghi nhận ý kiến của 02 cháu, 02 cháu có nguyện vọng muốn sống với mẹ (bà T) sau khi cha mẹ ly hôn. Hội đồng xét xử giao cháu Lộc, cháu Vy cho bà T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng theo Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con chung, do bà T không yêu cầu ông D cấp dưỡng

nuôi dưỡng con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà T xác định không yêu cầu Tòa án

xem xét, giải quyết nên không đề cập giải quyết.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà T phải chịu án phí hôn nhân sơ

thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Ông D không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm

2014; các Điều 144, 147, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lưu Thị Hồng T.

1. Về hôn nhân: Bà Lưu Thị Hồng T được ly hôn với ông Bùi Văn D.

Giấy chứng nhận kết hôn số 67, quyển 01, ngày 04/5/2005 do Ủy ban

nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho ông Bùi Văn D và bà Lưu Thị Hồng T không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung:

Bà Lưu Thị Hồng T được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Bùi Phú

L, sinh ngày 29/7/2004; Bùi Thị Tường V, sinh ngày 18/02/2009. Ông Bùi Văn D không phải cấp dưỡng nuôi dạy con chung.

Bà Lưu Thị Hồng T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được

cản trở ông Bùi Văn D trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có

thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

3. Về án phí sơ thẩm:

Bà Lưu Thị Hồng T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 (ba trăm

nghìn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn)

đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009774 do Chi

cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 06 tháng 12

năm 2021; bà Lưu Thị Hồng T đã nộp đủ án phí.

Ông Bùi Văn D không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

4. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Lưu Thị Hồng T có quyền

kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của ông Bùi Văn D được tính là 15 ngày kể từ

ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành

án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự

nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,

7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy

định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ