vanban.org

Bản án 66/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA TRI -TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2022/HNGĐ-ST
Ngày 31-5-2022
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hồng Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Hà Thị Dung.

2/ Ông Nguyễn Văn Tiến.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Yến Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Tri.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Tiến – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình đã thụ lý số: 221/2022/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2022/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2022 (Quyết định hoãn phiên tòa số: 46/2022/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2022) giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1997 (vắng mặt);

Địa chỉ: ấp G, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.

2. Bị đơn: Chị Lê Thị D, sinh năm 2000 (vắng mặt);

Địa chỉ: ấp G, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 10/3/2022, đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt ngày 27/4/2022 và trong quá trình tố tụng anh Nguyễn Hoàng T trình bày:

Anh và chị Lê Thị Diệu đăng ký kết hôn vào ngày 12/6/2019 tại Ủy ban nhân dân phường Linh Xuân (Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh). Trong quá trình chung sống, thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng sau khi sinh con khoảng 03 tháng thì chị Diệu về nhà cha mẹ ruột sống đến nay. Anh xuống kêu chị về nhưng chị Diệu không về mà nói “ly hôn đi”. Tháng 01/2021 anh rước con về sống với anh, từ đó đến nay chị Diệu cũng không hỏi thăm gì đến con. Chị Diệu không nói nguyên nhân không muốn chung sống với anh nhưng theo anh hiểu thì chị Diệu cho rằng anh bỏ bê, đi làm 02-03 ngày mới về 01 lần. Bản thân anh muốn hàn gắn với chị Diệu nhưng nhiều lần chị Diệu không có thiện chí hàn gắn. Từ khi anh rước con về nhà anh vào tháng 01/2021 thì chị Diệu cũng không quan tâm gì tới nên anh nhận thấy hôn nhân giữa anh và chị Diệu không thể tiếp tục nên yêu cầu ly hôn.

Con chung: Cháu Nguyễn Hoàng Sang, sinh ngày 28/7/2019 hiện anh nuôi dưỡng. Khi ly hôn anh yêu cầu tiếp tục nuôi con, không yêu cầu chị Diệu cấp dưỡng.

Tài sản chung không có, nợ chung: không có.

* Bị đơn chị Lê Thị D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri trình bày quan điểm: Về tố tụng, Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục. Vụ án có thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia. Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự thủ tục. Đối với đương sự, nguyên đơn anh T có đơn xin giải quyết vắng mặt; bị đơn chị D vắng mặt không lý do. Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh T, chị D là phù hợp. Về quan điểm giải quyết vụ án: Anh T và chị D có đăng ký kết hôn đúng quy định tại Ủy ban nhân dân phường Linh Xuân (Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh) vào ngày 12/6/2019 nên quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị D là hợp pháp. Trong quá trình chung sống, anh T và chị D xảy ra mâu thuẫn và hai bên không thiện chí hàn gắn. Từ đó cho thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Về con chung: Anh T yêu cầu nuôi cháu Nguyễn Hoàng S, sinh ngày 28/7/2019, chị D không tranh chấp nuôi con. Căn cứ, Điều 51, 56, 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình đề nghị chấp nhận yêu cầu của anh T về việc yêu cầu ly hôn với chị D. Giao cháu Sang cho anh T nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của anh T không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Töø caùc lôøi trình baøy treân;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tố tụng: Nguyên đơn anh Nguyễn Hoàng T có đơn xin giải quyết vắng mặt, bị đơn chị Lê Thị D được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, việc đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh T, chị D là phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Hoàng T và chị Lê Thị D kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Linh Xuân (Thủ Đức – Thành phố Hồ Chí Minh) vào ngày 12/6/2019 nên quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị D là hợp pháp. Trong quá trình chung sống, do anh T và chị D không có sự thương yêu, quan tâm chia sẽ lẫn nhau. Thời gian sống ly thân, đôi bên cũng không có thiện chí hàn gắn. Anh T vẫn giữ nguyên quan điểm xin ly hôn với chị D; riêng chị D đã được Toà án tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, điều đó đồng nghĩa với việc chị D tự tước đi quyền phản bác ý kiến đối với yêu cầu của anh T. Xét tình trạng hôn nhân giữa anh T và chị D không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh T đối với chị D.

Về con chung: Anh T yêu cầu nuôi cháu Nguyễn Hoàng S, sinh ngày 28/7/2019; chị D không tranh chấp nuôi con. Do đó, giao cháu Sang cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp theo Điều 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình. Ghi nhận sự tự nguyện của anh T không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Xét quan điểm đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) anh Nguyễn Hoàng T phải nộp theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYEÁT ÑÒNH:

Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Hoàng T đối với chị Lê Thị D.

2. Con chung: Anh Nguyễn Hoàng T tiếp tục nuôi cháu Nguyễn Hoàng S, sinh ngày 28/7/2019. Ghi nhận sự tự nguyện của anh T không yêu cầu chị Lê Thị D cấp dưỡng nuôi con.

Chị Lê Thị D có quyền thăm nom con chung. Khi có nhu cầu, vì lợi ích của con, hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con.

3. Tài sản chung: Không có.

4. Nợ chung: Không có.

5. Án phí hôn nhân và gia đình sô thaåm: 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) anh Nguyễn Hoàng T phải nộp và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 00003937 ngày 10 tháng 3 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri. Án phí anh T đã nộp xong.

Trường hợp baûn aùn, quyết ñịnh ñược thi haønh theo quy ñịnh tại Điều 2 Luật Thi haønh aùn daân sự thì người ñược thi haønh aùn daân söï, người phải thi haønh aùn daân söï coù quyền thỏa thuận thi haønh aùn, quyền yeâu cầu thi haønh aùn, tự nguyện thi haønh aùn hoặc bị cưỡng chế thi haønh aùn theo quy ñònh tại caùc ñieàu 6, 7, 7a, 7b vaø 9 Luật Thi haønh aùn daân sự; thời hiệu thi haønh aùn ñược thực hiện theo quy ñịnh tại Ñiều 30 Luật thi haønh aùn daân sự.

Baùo cho nguyên đơn, bị đơn bieát coù quyeàn khaùng caùo trong thôøi haïn 15 ngaøy keå từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ