- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Diệu Yến kiện Đinh Ngọc Yến Linh"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Nguyễn Diệu Y.
- Căn cứ chính? Điều 244 Bộ luật Dân sự; Điều 357 Bộ luật Dân sự; Điều 463 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ M TỈNH T | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2022/DS-ST Ngày: 29- 6- 2022. V/v tranh chấp: “Hợp đồng vay tài sản”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ M -TỈNH T
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thanh Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Ngọc Đào
Bà Lê Thị Thu Yến
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Nhật Minh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh T.
Ngày 29 tháng 6 năm 2022 tại Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh T xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 272/2021/TLST-DS ngày 27 tháng 12 năm 2021 về việc tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2022/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Diệu Y, sinh năm 1944.
Địa chỉ: số 133 Lê Đại Hành, phường 1, thành phố M, tỉnh T;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đoàn Hữu V, sinh năm 1960
Địa chỉ: Số 906 ấp Phong Thuận, xã T, thành phố M, tỉnh T.
(Văn bản ủy quyền ngày 19/10/2021)
*Bị đơn: Bà Đinh Ngọc Yến L, sinh năm 1975.
Địa chỉ: số 197B Lý Thường Kiệt, phường 5, thành phố M, tỉnh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Diệu Y và người đại diện theo ủy quyền là ông Đoàn Hữu V trình bày:
Bà Y là giáo viên về hưu nên bà thường xuyên mở lớp dạy thêm Anh văn thiếu nhi cho các cháu tại nhà. Tại lớp học này bà có quen phụ huynh học sinh là bà Đinh Ngọc Yến L. Do bà dạy con bà L thời gian lâu ngày nên bà có một chút tình cảm và niềm tin với bà L khi tiếp xúc qua lại.
Ngày 16/6/2020 bà L đến nhà bà nói chuyện về hoàn cảnh gia đình gặp khó khăn về tài chính có hỏi bà mượn số tiền 150.000.000 đồng bà đã lấy tiền dành dụm ra cho bà L mượn và bà L có viết biên nhận mượn tiền cho bà.
Tiếp đến ngày 05/10/2020 bà L mượn tiếp số tiền 150.000.000 đồng có viết biên nhận nợ.
Sau khi mượn nợ bà L không trả tiền cho bà Y đúng theo thỏa thuận và cố tình né tránh.
Nay bà Nguyễn Diệu Y yêu cầu bà Đinh Ngọc Yến L có trách nhiệm hoàn trả lại số tiền đã mượn 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng làm một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật. Nếu bà L chậm trả kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật thì phải chịu trách nhiệm tính lãi suất quá hạn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
* Theo các lời khai trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án bị đơn bà Đinh Ngọc Yến L trình bày:
Bà có mượn của bà Nguyễn Diệu Y 02 lần tổng số tiền 300.000.000 đồng có viết biên nhận nợ.
+Đối với biên nhận nợ ngày 16/6/2020 mặt sau bà có cam kết hứa bà Y ngày 30 tây hàng tháng trả mỗi tháng 6.000.000 đồng đến khi đủ số tiền 100.000.000 đồng. Đồng thời ngày 14 tây hàng tháng trả mỗi tháng 3.000.000 đồng đến khi đủ số tiền 50.000.000 đồng. Bà đã trả đủ số tiền 150.000.000 đồng nhưng không có yêu cầu bà Yến làm biên nhận và cũng không yêu cầu bà Y hủy biên nhận mượn tiền ngày 16/6/2020.
+ Đối với biên nhận nợ số tiền 150.000.000 đồng ngày 05/10/2020 bà có trả cho bà Y, trả dần nhưng không xác định số tiền bao nhiêu và cũng không có yêu cầu bà Y viết biên nhận.
Nay đối với yêu cầu của bà Y bà L đồng ý trả cho bà Y số tiền 300.000.000đồng nhưng xin trả dần mỗi tháng 2.000.000 đồng đến khi hết nợ vì hiện nay bà bị bệnh nặng không có việc làm phải sống nhờ vào con và nuôi con đi học.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu toàn bộ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
.Đây là vụ án có quan hệ pháp luật tranh chấp là “ Hợp đồng vay tài sản”.
Theo nội dung vụ án:
Vào năm 2020 bà Nguyễn Diệu Y có cho bà Đinh Ngọc Yến L vay 02 lần tổng số tiền 300.000.000 đồng có viết biên nhận nợ như sau:
-Ngày 16/6/2020 bà Đinh Ngọc Yến L đến nhà bà Nguyễn Diệu Y nói chuyện về hoàn cảnh gia đình gặp khó khăn về tài chính có hỏi mượn của bà Y số tiền 150.000.000 đồng.
Tiếp đến ngày 05/10/2020 bà L mượn tiếp số tiền 150.000.000 đồng.
Xét thấy, việc vay mượn thì bà L có viết biên nhận nợ cho bà Y, nhưng khi đến hạn thỏa thuận bà L không thực hiện nghĩa vụ trả số tiền đã mượng cho bà Y theo đúng số tiền và thời hạn thỏa thuận là vi phạm thời hạn thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Nay bà Nguyễn Diệu Y yêu cầu bà Đinh Ngọc Yến L có trách nhiệm hoàn trả lại số tiền đã mượn 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng làm một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật, không yêu cầu tính lãi. Nếu bà L chậm trả kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật thì phải chịu trách nhiệm tính lãi suất quá hạn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Bà Đinh Ngọc Yến L trình bày bà có viết biên nhận nợ mượn tiền của bà Y hai lần tổng số tiền 300.000.000 đồng, lãi suất 6%/tháng đề bà L cho vay lại hưởng chênh lệch.
+Đối với biên nhận nợ ngày 16/6/2020 mặt sau bà L có cam kết hứa bà Y ngày 30 tây hàng tháng trả mỗi tháng số tiền 6.000.000 đồng đến khi đủ số tiền 100.000.000 đồng. Đồng thời ngày 14 tây hàng tháng trả mỗi tháng số tiền 3.000.000 đồng đến khi đủ số tiền 50.000.000 đồng. Bà L đã trả đủ số tiền 150.000.000 đồng nhưng không có yêu cầu bà Y làm biên nhận và cũng không yêu cầu bà Y hủy biên nhận mượn tiền ngày 16/6/2020.
+ Đối với biên nhận nợ số tiền 150.000.000 đồng ngày 05/10/2020 bà L có trả cho bà Y trả dần nhưng không xác định số tiền bao nhiêu và cũng không có yêu cầu bà Y viết biên nhận.
Qua yêu cầu của bà Y thì bà L không có tranh chấp về số tiền đã trả cho bà Y, bà L đồng ý trả cho bà Y số tiền 300.000.000đồng nhưng xin trả dần mỗi tháng 2.000.000 đồng đến khi hết nợ vì hiện nay bà bị bệnh nặng không có việc làm phải sống nhờ vào con và nuôi con đi học nhưng không được bà Y chấp nhận là nhằm kéo dài thời hạn thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Y.
Nay bà Y chỉ yêu cầu bà L trả lại số tiền 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng làm một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật, không yêu cầu tính lãi. Là có cơ sở phù hợp quy định pháp luật và có lợi cho bà L.
Đối với yêu cầu của bà Y yêu cầu nếu bà L chậm trả kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật thì phải chịu trách nhiệm tính lãi suất quá hạn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Y có thay đổi yêu cầu tính lãi chậm thực hiện nghĩa vụ giai đoạn thi hành án 0,83%/ tháng theo quy định của pháp luật kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đến khi thi hành án xong là có cơ sở phù hợp quy định pháp luật.
Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Y cần buộc bà L thực hiện nghĩa vụ trả cho bà Y số tiền 300.000.000 (Ba trăm triệu) đồng làm một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
.Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Đinh Ngọc Yến L Phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ các Điều 463, 466, 468, 470, Điều 244 và khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Nguyễn Diệu Y.
1/ Buộc bà Đinh Ngọc Yến L thực hiện nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Diệu Y số tiền 300.000.000 (Ba trăm triệu) đồng. Thời gian thực hiện một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày bà Y có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà L chậm thi hành số tiền trên thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự 2015
2/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Đinh Ngọc Yến L phải chịu là 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng. Bà Y thuộc diện người cao tuổi được miễn nộp tiền tạm ứng án phí nên không xem xét.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh T; - VKSND TP M, - CC THADS TP Mỹ Tho; - Đương sự, - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠTHẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thanh Sơn |