vanban.org

Bản án 66/2022/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND tỉnh Đắk Nông Tuyên án 13/12/2022 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/12/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Hủy bản án sơ thẩm số: 36/2022/DS-ST ngày 20/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. TAND Cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Lương Tài Sơn - Trần Thị Thu Hồng"
  • Tòa quyết gì? Hủy bản án sơ thẩm số: 36/2022/DS-ST ngày 20/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2022/DS-PT
Ngày 13-12-2022
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Danh Đại.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Tài Sử và ông Võ Văn Vinh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thúy, là Thư ký của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tám – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 12 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 99/2022/TLPT-DS ngày 10 tháng 11 năm 2022 về việc“Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 36/2022/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Mil, tỉnh Đắk Nông bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 67/2022/QĐ-PT ngày 17 tháng 11 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Lương Tài S, địa chỉ: Thôn Đ2, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Võ Cao T, địa chỉ: Thôn M, xã Đ1, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – có mặt.

Bị đơn: Bà Trần Thị Thu H, địa chỉ: Thôn Đ2, xã T1, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – có mặt.

Người kháng cáo: Bà Trần Thị Thu H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 10/5/2018 ông Lương Tài S có cho bà Trần Thị Thu H vay số tiền 200.000.000 đồng, hai bên có xác lập giấy vay tiền và thỏa thuận thời hạn trả là ngày 10/7/2018, các bên không thoả thuận lãi suất.

Tuy nhiên, đến thời hạn trả nhưng bà H không thực hiện theo thỏa thuận, sau nhiều lần yêu cầu thì bà H có trả cho ông S một năm tiền lãi với số tiền là 20.000.000 đồng (ông S không xác định cụ thể thời gian nào), còn lại số tiền gốc cho đến nay bà H chưa trả cho ông S. Vì vậy, ông S khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà H phải trả cho ông S số tiền nợ gốc là 200.000.000 đồng và lãi suất 0,83%/tháng tính từ ngày 10/7/2018 đến nay sau đó trừ đi số tiền lãi 20.000.000 đồng mà bà H đã trả.

Tại phiên tòa người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện về yêu cầu tính lãi suất cụ thể: Yêu cầu bà H phải có nghĩa vụ thanh toán cho ông S số tiền nợ gốc là 200.000.000 đồng và lãi suất 0,83%/tháng tính từ ngày 11/7/2018 đến ngày xét xử sơ thẩm, sau đó trừ đi số tiền lãi 20.000.000 đồng mà bà H đã trả.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn là bà Trần Thị Thu H trình bày:

Bà H thừa nhận thông qua bà Nguyễn Thị L nên ngày 10/5/2018 giữa bà H và ông S có xác lập giao dịch vay số tiền 200.000.000 đồng. Khi xác lập thì bà H là người viết giấy vay tiền và thoả thuận thời hạn trả là ngày 10/7/2018, các bên không thoả thuận lãi suất. Tuy nhiên, thực tế bà H cho rằng chưa nhận số tiền 200.000.000 đồng từ ông S. Vì vậy, nay ông S khởi kiện yêu cầu bà H phải trả số tiền 200.000.000 đồng và lãi suất thì bà H không đồng ý.

Người làm chứng là bà Nguyễn Thị L trình bày: Bà Nguyễn Thị L và ông Lương Tài S có mối quan hệ họ hàng nên bà Trần Thị Thu H có nhờ bà L hỏi giùm ông S để cho bà H vay số tiền 200.000.000đồng. Ngày 10/5/2018, bà L nói với ông S về nội dung mà bà H đã nhờ thì ông S đồng ý cho bà H vay, đồng thời đưa cho bà L số tiền 200.000.000 đồng về đưa cho bà H. Sau đó bà L và ông S cùng đi xuống nhà bà L, lúc này bà H đang ở nhà bà L. Tại nhà bà L thì bà H đã viết giấy vay tiền để xác nhận nợ ông S số tiền 200.000.000 đồng và bà L đã đưa cho bà H số tiền 200.000.000 đồng, sau đó các bên thực hiện hợp đồng vay tiền như thế nào thì bà L không biết.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 36/2022/DS-ST ngày 20/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông đã căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Áp dụng Điều 357, Điều 463, Điều 465, Điều 466, Điều 468, khoản 1 Điều 470 Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và L phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lương Tài S.

Buộc bà Trần Thị Thu H phải trả cho ông Lương Tài S tổng số tiền là 263.498.000 đồng, trong đó số tiền nợ gốc là 200.000.000 đồng và số tiền lãi là 63.498.000 đồng).

Kể từ ngày có đơn thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 12 tháng 10 năm 2022 bị đơn bà Trần Thị Thu H kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị HĐXX sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông S đối với số tiền gốc 200.000.000 đồng và tiền lãi.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn giữ nguyên kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.

- Về nội dung: Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ có trong hồ sơ, kết quả tranh tụng tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308; Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Hủy bản án sơ thẩm số 36/2022/DS-ST ngày 20/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Phiên tòa xét xử sơ thẩm ngày 16 tháng 9 năm 2020 (bản án số 33/2020/DS-ST) của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông thì Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử vụ án là bà Hoàng Thị Thanh. Bản án bị kháng cáo, Tòa án cấp phúc thẩm đã xét xử hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án nêu trên với lý do nguyên đơn ông Lương Tài S có văn bản xin được rút đơn khởi kiện. Tuy nhiên, đến ngày 03/3/2022 ông Lương Tài S nộp đơn khởi kiện đề nghị giải quyết vụ án yêu cầu bà Trần Thị Thu H phải có nghĩa vụ thanh toán cho ông S số tiền nợ gốc là 200.000.000 đồng và lãi suất. Đến ngày 20 tháng 9 năm 2022, Tòa án cấp sơ thẩm mở phiên tòa xét xử lại vụ án thì Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử lại vụ án vẫn là bà Hoàng Thị Thanh là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng quy định tại khoản 3 Điều 53 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Xét quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tại phiên tòa là có căn cứ Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

. Do cấp sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, cấp phúc thẩm không thể khắc phục được, nên Hội đồng xét xử không xem xét nội dung kháng cáo của bị đơn. Hủy bản án dân sự sơ thẩm số: 36/2022/DS-ST ngày 20/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 308; khoản 2 Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự:

1. Hủy bản án sơ thẩm số: 36/2022/DS-ST ngày 20/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

2. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ