vanban.org

Bản án 66/2022/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND tỉnh Bình Thuận Tuyên án 26/05/2022 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/05/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nh n phần yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn, bà Trịnh Thị D.

Buộc bà Trương Thị Hoài T và ông Nguyễn Văn B phải liên đới trả cho bà Trịnh Thị D số tiền còn nợ là 881.070.000 đồng (Tám trăm tám mươi mốt triệu không trăm bảy mươi ngàn đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án)… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nh n phần yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn, bà Trịnh Thị D.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2022/DS-PT
Ngày: 26/5/2022
V/v: Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NH N D N TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Hòa

Các Thẩm phán:

Ông Lương Thanh Chín

Bà Trần Thị Thiên Hương

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân t nh Bình Thu n.

- Đ i di n Vi n Ki m sát nhân dân t nh Bình Thu n tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2022 t i tr s Tòa án nhân dân t nh Bình Thu n x t xử phúc thẩm công khai v án dân sự th lý số 123/2021/TLPT-DS ngày 14 tháng 12 năm 2021, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 82/2021/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện T bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa v án ra x t xử phúc thẩm số 13/2022/QĐ-PT ngày 23 tháng 02 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2022/QĐ-PT ngày 09 tháng 3 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2022/QĐ-PT ngày 31 tháng 3 năm 2022; Thông báo về thời gian m phiên tòa số 52/2022/TB-TA ngày 06 tháng 5 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2022/QĐ-PT ngày 17 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị D, sinh năm 1968; Địa ch : Thôn 02, xã Đ, huyện T, t nh Bình Thu n.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Đặng Quang V, sinh năm 1992; địa ch : Số 558 B đường C, khu phố 01, thị trấn V, huyện Đ, t nh Bình Thu n (có mặt).

- Bị đơn: Bà Trương Thị Hoài T (tên thường gọi T1), sinh năm 1974; Địa ch : Thôn 04, xã Đ, huyện T, t nh Bình Thu n (có mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1974; Địa ch : Thôn 04, xã Đ, huyện T, t nh Bình Thu n (vắng mặt).

Người kháng cáo: Bà Trương Thị Hoài T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm thì nội dung v án được tóm tắt như sau:

Lời trình bày của phía nguyên đơn: Do xuất phát từ chỗ quen biết nên từ tháng 4/2016 đến tháng 11/2016 âm lịch, bà T đã nhiều lần vay tiền của bà D, tổng cộng là 2.106.510.000 đồng, c thể: Ngày 15/4/2016 âm lịch, bà T vay 104.250.000 đồng; ngày 10/5/2016 âm lịch, bà T vay 206.720.000 đồng; ngày 10/7/2016 âm lịch, bà T vay 02 lần, lần 01 vay số tiền 103.600.000 đồng, lần 02 vay số tiền 110.140.000 đồng; ngày 24/8/2016 bà T vay số tiền 200.000.000 đồng; ngày 08/9/2016 bà T vay số tiền 200.000.000 đồng; ngày 10/9/2016 bà T vay số tiền 104.000.000 đồng; ngày 17/9/2016 bà T vay số tiền 200.000.000 đồng; ngày 30/9/2016 bà T vay số tiền 200.000.000 đồng; ngày 03/11/2016 bà T vay số tiền 200.000.000 đồng và ngày 15/11//2016 bà T vay số tiền 477.800.000 đồng. Các lần vay tiền bà T đều có viết giấy vay tiền và giao bà D cất giữ. Từ khi vay đến nay, bà T không thực hiện nghĩa v trả nợ nên bà D mới kh i kiện. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết v án t i Tòa án thì giữa bà D và bà T thống nhất tính toán với nhau số tiền bà T còn thiếu của bà D là 1.031.070.000 đồng. Bà D yêu cầu vợ chồng bà Trương Thị Hoài T và ông Nguyễn Văn B phải liên đới trả cho bà số tiền còn thiếu là 1.031.070.000 đồng.

Lời trình bày của phía bị đơn: Bà Trương Thị Hoài T thừa nh n chữ viết và chữ ký trên các giấy vay tiền mà bà Trịnh Thị D cung cấp là của bà T. Tuy nhiên, bà T không đồng ý với yêu cầu kh i kiện của bà D. Khoảng từ năm 2010, bà T có vay tiền và tham gia nhiều dây h i do bà D làm chủ. Khi vay tiền bà T đều viết giấy nh n nợ giao cho bà D cất giữ và sau đó đã tiến hành trả góp hàng ngày cho bà D; khi trả tiền góp hàng ngày thì ch tiến hành giao nh n tiền trên thực tế, chứ bà T không có tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh. Riêng về việc tham gia h i, thông thường sau khi hốt các phần h i thì bà T phải đóng h i chết cho bà D hàng tháng nhưng do không có điều kiện nên bà T trả dưới hình thức góp hàng ngày. Sau khi chốt nợ h i thì bà T cũng tiến hành trả góp hàng ngày cho bà D, đến nay không còn khoản nợ h i nào chưa trả xong. Khi tham gia h i và góp tiền h i cho bà D thì ch có sổ theo dõi của bà D, chứ bên bà T không có tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn B trình bày: Ông B là chồng của bà Trương Thị Hoài T. Việc bà Trâm vay tiền và tham gia chơi h i với bà D thì ông B không tham gia nên không biết. Ông B cũng không rõ bà T sử d ng tiền vay và tiền h i vào m c đích gì. Do đó, ông không đồng ý liên đới nghĩa v trả nợ cùng bà T.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 82/2021/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện T đã quyết định:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 91; các điều 147, 203, 227, 228 và khoản 2 Điều 244 của Bộ lu t tố t ng dân sự;

Các Điều 463 và 466 của Bộ lu t dân sự năm 2015;

Các Điều 27 và Điều 37 của Lu t hôn nhân và gia đình năm 2014;

Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nh n yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn bà Trịnh Thị D.

Buộc vợ chồng bà Trương Thị Hoài T và ông Nguyễn Văn B phải có nghĩa v liên đới trả cho bà Trịnh Thị D số tiền là 1.031.070.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Đình ch x t xử phần yêu cầu buộc vợ chồng bà Trương Thị Hoài T, ông Nguyễn Văn B phải có nghĩa v liên đới trả cho bà D số tiền 1.075.440.000 đồng.

3. Về án phí:

Buộc vợ chồng bà Trương Thị Hoài T và ông Nguyễn Văn B phải liên nộp 42.932.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả l i cho bà Trịnh Thị D 16.468.500 đồng t m ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0004582 ngày 26/01/2021 và 3.884.000 đồng t m ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0007349, ngày 28/5/2021 của Chi c c thi hành án dân sự huyện T.

Ngày 05 tháng 10 năm 2021, bị đơn bà Trương Thị Hoài T kháng cáo yêu cầu hủy toàn bộ bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện T.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Đ i diện theo ủy quyền của nguyên đơn và bị đơn thống nhất số tiền bà Trương Thị Hoài T còn thiếu chưa thanh toán cho bà Trịnh Thị D là 881.070.000 đồng

- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết v án:

+ Về tố t ng: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng trình tự, thủ t c theo quy định của pháp lu t trong quá trình giải quyết v án.

+ Về nội dung: T i phiên tòa phúc thẩm đ i diện theo ủy quyền của nguyên đơn và bị đơn thống nhất được số tiền còn nợ chưa thanh toán đề nghị Hội đồng x t xử áp d ng Điều 300 và Điều 309 Bộ lu t tố t ng dân sự, công nh n sự thỏa thu n của các bên và sửa án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ v án đã được thẩm tra t i phiên tòa phúc thẩm; trên cơ s xem x t đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến trình bày và tranh lu n t i phiên tòa của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng x t xử nh n thấy:

Về tố t ng: Đơn kháng cáo của bị đơn bà Trương Thị Hoài T làm trong thời h n lu t định, nộp t m ứng án phí đúng thời gian quy định. Nội dung kháng cáo nằm trong ph m vi bản án sơ thẩm nên được xem x t theo thủ t c phúc thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan là ông Nguyễn Văn B đã được Tòa án triệu t p hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, nên Hội đồng x t xử căn cứ Điều 296 Bộ lu t tố t ng dân sự, vẫn tiến hành x t xử

X t kháng cáo của bị đơn đề nghị hủy bản án giao hồ sơ cho cấp sơ thẩm giải quyết l i, Hội đồng x t xử thấy:

Về tố t ng, quan hệ pháp lu t: Bản án dân sự sơ thẩm số 82/2021/ DSST ngày 23/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện T đã xác định đúng quan hệ pháp lu t, đưa đầy đủ những người tham gia tố t ng. Các đương sự đã được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa v theo quy định của Bộ lu t Tố t ng dân sự.

Về nội dung kháng cáo của bị đơn, chính là yêu cầu kh i kiện của bà Trịnh Thị D, Hội đồng x t xử thấy:

Đây là v án tranh chấp về hợp đồng vay tài sản. Để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp, nguyên đơn bà Trịnh Thị D cung cấp cho Tòa án chứng cứ là 10 giấy nh n nợ thể hiện nội dung “T bình có mượn của chị D ….” , c thể ngày và số tiền vay như sau: Ngày 15/4/2016 âm lịch, vay 104.250.000 đồng; ngày 10/5/2016 âm lịch, vay 206.720.000 đồng; ngày 10/7/2016 âm lịch, vay 02 lần, lần 01 vay số tiền 103.600.000 đồng, lần 02 vay số tiền 110.140.000 đồng; ngày 24/8/2016 âm lịch, vay số tiền 200.000.000 đồng; ngày 08/9/2016 âm lịch, vay số tiền 200.000.000 đồng; ngày 10/9/2016 âm lịch, vay số tiền 104.000.000 đồng; ngày 17/9/2016 âm lịch, vay số tiền 200.000.000 đồng; ngày 30/9/2016 âm lịch, vay số tiền 200.000.000 đồng; ngày 03/11/2016 âm lịch, vay số tiền 200.000.000 đồng và ngày 15/11//2016 âm lịch, vay số tiền 477.800.000 đồng. Tổng số tiền vay là 2.106.710.000 đồng (cấp sơ thẩm xác định tổng số tiền vay là 2.106.510.000 đồng); trong quá trình giải quyết v án t i cấp sơ thẩm thì giữa bà D và bà T tính toán với nhau số tiền bà T còn thiếu thì bà D xác định bà T còn nợ số tiền 1.031.070.000 đồng, nhưng bà T không thừa nh n số tiền này và cho rằng bà D tính toán chưa chính xác, số tiền bà nợ ít hơn nhiều. Còn bà D thì yêu cầu vợ chồng bà Trương Thị Hoài T và ông Nguyễn Văn B phải liên đới trả cho bà số tiền còn thiếu là 1.031.070.000 đồng và không yêu cầu tính lãi.

Các tài liệu trong hồ sơ và lời khai của bị đơn bà T thừa nh n: Do xuất phát từ mối quan hệ quen biết nên từ năm 2010 bà T có vay tiền và tham gia nhiều dây h i do bà D làm chủ. Khi vay tiền thì bà T đều viết giấy nh n nợ, giao cho bà D cất giữ và tiến hành trả góp hàng ngày cho bà D. Bà T thừa nh n chữ viết và chữ ký trong các giấy vay tiền bà D cung cấp cho Tòa án là của bà T, do bà T tự nguyện viết, không bị ai p buộc. Tuy nhiên, toàn bộ số tiền này đã được bà T trả đủ dưới hình thức góp hàng ngày, đến nay không còn thiếu tiền bà D. Tuy nhiên, bà T không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh là đã trả số tiền còn thiếu cho bà D.

Trong quá trình giải quyết v án, bà D xác định bà T còn thiếu bà D tổng số tiền 2.106.710.000 đồng là có căn cứ. Tuy nhiên, bà D ch yêu cầu bà T phải trả số tiền còn thiếu là 1.031.070.000 đồng nên cần ghi nh n là phù hợp với quy định t i các Điều 463 và 466 Bộ lu t dân sự năm 2015. Từ những căn cứ trên đủ cơ s khẳng định, bà Trịnh Thị D kh i kiện yêu cầu bà Trương Thị Hoài T, ông Nguyễn Văn B phải trả số tiền gốc 1.031.070.000 đồng đã vay là có căn cứ.

T i phiên tòa phúc thẩm, đ i diện theo ủy quyền của nguyên đơn và bị đơn bà Trương Thị Hoài T xác định số tiền bà T còn nợ của bà D chưa trả là 881.070.000 đồng là thấp hơn số tiền đã được tính trên và có lợi cho bị đơn, nên cần ghi nh n. Việc thỏa thu n này của các bên đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không trái với các quy định của pháp lu t và đ o đức xã hội, nghĩ nên công nh n sự thỏa thu n này và sửa án sơ thẩm là phù hợp.

Nghĩa v trả tiền: Nguyên đơn cầu vợ chồng bà Trương Thị Hoài T, ông Nguyễn Văn B phải liên đới nghĩa v thực hiện trả nợ cho nguyên đơn. Ông Nguyễn Văn B trình bày ông và bà T là vợ chồng nhưng ông không biết việc bà T vay tiền của bà D, cũng không sử d ng tiền vay vào m c đích chung trong gia đình. Bà T khẳng định bà xác l p giao dịch vay tài sản với bà D chứ ông B không tham gia; nhưng bà T thừa nh n tiền vay của bà D về sử d ng vào việc làm ăn, kinh doanh trong gia đình. X t thấy, hiện t i bà T và ông B vẫn là vợ chồng, đang chung sống với nhau nhưng ông B cho rằng không biết khoản nợ này là không có cơ s chấp nh n. Mặt khác, ông B không có chứng cứ gì chứng minh việc bà T mượn nợ để tiêu xài cá nhân. Do đó, có đủ cơ s để buộc ông B phải liên đới nghĩa v với bà T trả số tiền còn thiếu cho bà D là phù hợp với các Điều 27 và 37 lu t Hôn nhân gia đình năm 2014.

Từ phân tích trên, có đủ căn cứ để chấp nh n yêu cầu kh i kiện của Trịnh Thị D buộc bà Trương Thị Hoài T và ông Nguyễn Văn B phải thanh toán cho bà Trịnh Thị D số tiền 881.070.000 đồng. Do đó, cần chấp nh n yêu cầu kháng cáo của bà T sửa bản án sơ thẩm.

Đề nghị của Kiểm sát viên t i phiên tòa phúc thẩm là đúng pháp lu t, phù hợp với nh n định của Hội đồng x t xử nên được chấp nh n, sửa án sơ thẩm theo hướng công nh n số tiền bà Trương Thị Hoài T còn nợ của bà Trịnh Thị D là 881.070.000 đồng.

Tòa án cấp sơ thẩm đình ch x t xử phần yêu cầu buộc vợ chồng bà Trương Thị Hoài T, ông Nguyễn Văn B phải có nghĩa v liên đới trả cho bà D số tiền 1.075.440.000 đồng, là chưa phù hợp. B i vì, trong quá trình kh i kiện nguyên đơn kh i kiện yêu cầu trả số tiền 2.106.710.000 đồng đối với 10 giấy nh n nợ, trong quá trình giải quyết xác định bị đơn ch còn nợ số tiền 1.031.070.000 đồng và nguyên đơn ch yêu cầu bị đơn phải trả số tiền này, đây là trường hợp thay đổi nội dung yêu cầu kh i kiện nên ch cần nh n định, xác định rõ số nợ còn l i và buộc bị đơn phải trả. Tuy nhiên, sai sót này không làm ảnh hư ng nghiêm trọng đến quyền lợi của các bên đương sự nên ch cần rút kinh nghiệm và Tòa án cấp phúc thẩm điều ch nh l i cho phù hợp.

Về án phí:

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm, nên án phí được tính l i như sau: Bà T và ông B phải chịu án phí trên số tiền mà bà D yêu cầu được Tòa án chấp nh n, số tiền án phí phải nộp trên tổng số tiền 881.070.000 đồng.

Án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của bà T được chấp nh n nên không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy đinh.

Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp lu t kể từ ngày hết thời h n kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 300 và khoản 1 Điều 309 Bộ lu t Tố t ng dân sự; Chấp nh n yêu cầu kháng cáo của bà Trương Thị Hoài T. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 82/2021/DS-ST ngày 23/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện T.

Căn cứ: Khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 91; các Điều 147, 203, 227, 228 và khoản 2 Điều 244 Bộ lu t Tố t ng dân sự; Điều 463 và Điều 466 của Bộ lu t dân sự năm 2015; Điều 27 và Điều 37 Lu t HNGĐ năm 2014; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường v Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Toà án.

1. Chấp nh n phần yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn, bà Trịnh Thị D.

Buộc bà Trương Thị Hoài T và ông Nguyễn Văn B phải liên đới trả cho bà Trịnh Thị D số tiền còn nợ là 881.070.000 đồng (Tám trăm tám mươi mốt triệu không trăm bảy mươi ngàn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc vợ chồng bà Trương Thị Hoài T, ông Nguyễn Văn B phải liên đới nộp 38.432.000 đồng (Ba mươi tám triệu bốn trăm ba mươi hai ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn l i cho bà Trịnh Thị D 16.468.500 đồng t m ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0004582, ngày 26/01/2021 và 3.884.000 đồng t m ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0007349, ngày 28/5/2021 của Chi c c Thi hành án dân sự huyện T.

3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trương Thị Hoài T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn l i cho bà Trương Thị Hoài T số tiền 300.000 đồng t m ứng án phí theo biên lai số 0007492 ngày 12 tháng 10 năm 2021 của Chi c c thi hành án dân sự huyện T.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định t i Điều 2 của Lu t thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa Th n thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định t i các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Lu t thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định t i Điều 30 của Lu t thi hành án dân sự.

Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp lu t kể từ ngày hết thời h n kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án. Nơi nh n:

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

- VKSND t nh Bình Thu n;

Cỡ chữ