vanban.org

Bản án 66/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 6, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 22/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Phước H (Mù U) phạm tội: «Trộm cắp tài sản».

Xử phạt bị cáo Lê Phước H (Mù U) 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm, kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Lê Phước H cho Ủy ban nhân dân Phường N, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Lê Phước H có trách n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Lê Phước H (Mù U) phạm tội: «Trộm cắp tài sản» - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Phước H (Mù U) phạm tội: «Trộm cắp tài sản».
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2021/HS-ST
Ngày: 22/11/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Liên.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị Nữa.

Ông Lê Tấn Hoàng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thư Nhàn - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Nhật Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 51/2021/TLST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2021/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:

Lê Phước H (tên thường gọi là Mù U); Sinh ngày: 23/3/1997; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: 21L/31 đường NSL, Phường N, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; Tạm trú: 132/20 đường ND (mới: đường HT), Phường N, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Phước Đ và bà: Đặng Thị Kiều Th; Có vợ: Không và con: Không; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại.

(bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Bị hại:

Ông Võ Công T; Sinh năm: 1972; Thường trú: 118/27C đường TQD, Phường N, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 226/17 đường NTS, Phường D, quận GV, Thành phố Hồ Chí Minh.

(vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Bà Đặng Thị Kiều Th; Sinh năm: 1975; Thường trú: 21L/31 đường NSL, Phường N, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; Tạm trú: 132/20 đường ND (mới: đường HT), Phường N, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

(vắng mặt)

2. Hộ kinh doanh TH; Địa chỉ: 1573 đường BTH, Phường P, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện Hộ kinh doanh: Ông Nguyễn Văn V; Sinh năm: 1990; Thường trú: Xã HL, huyện HH, tỉnh Nam Định; Chỗ ở: 76/16 đường TP, Phường B, Quận K, Thành phố Hồ Chí Minh.

(vắng mặt)

3. Công ty Trách nhiệm hữu hạn Sản xuất Thương mại & Dịch vụ PT; Địa chỉ: 45-47 đường SH, Phường J, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người đại diện theo pháp luật của Công ty: Ông Lê Hoàng K; Sinh năm: 1992 - Là Giám đốc Công ty.

(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 13/12/2020, khi chạy ngang Công viên Phú Lâm (số 170 đường Kinh Dương Vương, Phường 13, Quận 6), ông Võ Công T thấy Lê Phước H (đã phẫu thuật chuyển giới từ nam sang nữ) đang đứng trước công viên, nên đến bắt chuyện làm quen và rủ H đi ăn. Sau đó, ông T chở H đến thuê phòng 302 của khách sạn HP - địa chỉ 170 đường LCH, Phường J, Quận F để quan hệ tình dục. Khi vào phòng 302, ông T lấy túi xách màu đen (loại túi đeo chéo) để trên giường (gần chỗ H đang ngồi) rồi đi tắm. Lúc này H nảy sinh ý định chiếm đoạt túi xách của ông T nên cầm túi xách bỏ chạy xuống tầng trệt. Ông T phát hiện tri hô và đuổi theo xuống cầu thang. Nghe tiếng tri hô của ông T, nhân viên khách sạn chặn H lại, nhưng sau khi nghe H nói bị ông T đánh phải bỏ chạy, nhân viên khách sạn liền để cho H đi. Trên đường tẩu thoát, H mở túi xách ra kiểm tra thì thấy bên trong túi xách có 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max màu Gold, 01 chiếc đồng hồ hiệu Apple Watch màu Gold, 01 cây thuốc lá điện tử. H đem chiếc điện thoại và chiếc đồng hồ đến cửa hàng mua bán điện thoại TH tại địa chỉ 1573 đường BTH, Phường P, Quận K bán cho ông Nguyễn Văn V lấy 11.000.000 đồng (bán điện thoại với giá 8.500.000 đồng, bán đồng hồ với giá 2.500.000 đồng), còn túi xách và cây thuốc lá điện tử thì H vứt bỏ tại trước nhà số 132/21B đường HT, Phường N, Quận H.

Qua truy xét, ngày 02/01/2021 Cơ quan điều tra Công an Quận 6 đã triệu tập Lê Phước H lên làm việc. Qua đấu tranh, H khai nhận nội dung như đã nêu trên.

Bị hại và người làm chứng khai cũng tương tự.

Cơ quan điều tra Công an Quận 6 tiến hành cho ông Võ Công T và ông Nguyễn Văn V nhận dạng người qua hình ảnh. Ông Võ Công T xác định Lê Phước H chính là người cùng ông thuê phòng 302 của khách sạn HP vào tối ngày 13/12/2020 và sau đó đã lấy trộm 01 túi xách của ông. Còn ông Nguyễn Văn V xác định Lê Phước H chính là người đã đem chiếc điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max màu Gold và chiếc đồng hồ hiệu Apple Watch màu Gold đến cửa hàng mua bán điện thoại TH bán cho ông, đồng thời ông V giao nộp lại chiếc điện thoại cho Cơ quan điều tra. Riêng chiếc đồng hồ, ông V đã bán cho khách không thu hồi được.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 01/KL-HĐĐGTS ngày 04 tháng 01 năm 2021, Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Quận 6 đã kết luận trị giá của chiếc điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max và chiếc đồng hồ hiệu Apple Watch Series 5 tại thời điểm ngày 13/12/2020, cụ thể như sau:

- 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max màu Gold, dung lượng 64Gb (tình trạng sử dụng còn khoảng 90%) là 12.000.000 đồng.

- 01 chiếc đồng hồ hiệu Apple Watch Series 5 màu Gold, bản LTE Cellular 44MM (tình trạng sử dụng còn khoảng 90%) là 7.000.000 đồng.

Riêng 01 túi xách và 01 cây thuốc lá điện tử do bị hại không cung cấp đầy đủ thông tin và đặc điểm của tài sản cần định giá, nên không có cơ sở để đề nghị Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Quận 6 định giá.

Ngày 19 tháng 3 năm 2021, Cơ quan điều tra Công an Quận 6 ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự (Quyết định số: 60/QĐ-HS); khởi tố bị can đối với Lê Phước H về tội «Trộm cắp tài sản» (Quyết định số: 36/QĐ-HS) và Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú với nội dung: Lê Phước H chỉ được phép cư trú tại 132/20 đường ND (mới: đường HT), Phường N, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (Lệnh số: 10/LC-HS).

Đối với ông Nguyễn Văn V, là người có hành vi mua chiếc điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max màu Gold và chiếc đồng hồ hiệu Apple Watch màu Gold từ Lê Phước H, nhưng ông V không biết đó là tài sản do phạm tội mà có, nên không truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tại Cáo trạng số: 45/CTr-VKS-Q6 ngày 27 tháng 5 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Phước H về tội «Trộm cắp tài sản» theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Bị cáo Lê Phước H khai nhận chính bị cáo, đã thực hiện hành vi lấy trộm của ông Võ Công T 01 túi xách màu đen (bên trong túi xách có 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max màu Gold, 01 chiếc đồng hồ hiệu Apple Watch màu Gold, 01 cây thuốc lá điện tử) vào tối ngày 13/12/2020 tại phòng 302 của khách sạn HP - địa chỉ 136 đường LCH, Phường J, Quận F như nội dung bản cáo trạng nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Phước H như bản cáo trạng và sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Phạt bị cáo Lê Phước H từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, với thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm về tội «Trộm cắp tài sản» theo khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Không phạt tiền đối với bị cáo, do bị cáo không có khả năng thi hành.

Về bồi thường thiệt hại: Đã thỏa thuận giải quyết xong, nên không đề nghị giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Trả lại bị cáo Lê Phước H 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max màu Gold, số Imei 1: 356714118772868, số Imei 2: 356714119208276.

Đối với 01 USB màu xanh lá cây (chứa file dữ liệu ghi lại hình ảnh Lê Phước H cùng ông Võ Công T vào khách sạn HP ngày 13/12/2020 - BL114) đã được niêm phong, là chứng cứ lưu hồ sơ, nên không đề nghị xử lý.

Còn các vật chứng khác, Cơ quan điều tra Công an Quận 6 đã xử lý xong, nên không đề nghị xử lý.

Lời nói sau cùng, bị cáo Lê Phước H nhận thức được hành vi của bị cáo là sai, là vi phạm pháp luật nên không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình, có cơ hội làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối chiếu lời khai của bị cáo Lê Phước H tại phiên tòa với Biên bản khám nghiệm hiện trường, Biên bản ghi nhận hình ảnh qua Camera của Công an Quận 6; Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; Kết luận định giá tài sản số: 01/KL-HĐĐGTS ngày 04/01/2021 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Quận 6; lời khai của bị hại Võ Công T; của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Văn V và của người làm chứng tại Cơ quan điều tra cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Phước H đã phạm tội «Trộm cắp tài sản». Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo Lê Phước H đã lợi dụng sự sơ hở của ông Võ Công T, lén lút chiếm đoạt của ông T 01 túi xách màu đen (loại túi đeo chéo), bên trong túi xách có 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max màu Gold, dung lượng 64Gb trị giá 12.000.000 đồng; 01 chiếc đồng hồ hiệu Apple Watch Series 5 màu Gold, bản LTE Cellular 44MM trị giá 7.000.000 đồng; 01 cây thuốc lá điện tử vào tối ngày 13/12/2020 tại phòng 302 của khách sạn HP - địa chỉ 136 đường LCH, Phường J, Quận F (tổng trị giá tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là 19.000.000 đồng. Riêng 01 túi xách và 01 cây thuốc lá điện tử không định giá được do bị hại không cung cấp đầy đủ thông tin và đặc điểm của tài sản cần định giá). Hành vi này của bị cáo không những đã xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, trị an chung. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 truy tố bị cáo về tội «Trộm cắp tài sản» thuộc trường hợp «tài sản bị chiếm đoạt trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng» theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Bị cáo Lê Phước H là người đã trưởng thành, bị cáo hoàn toàn có đủ khả năng nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi nguy hiểm cho xã hội và được quy định trong Bộ luật hình sự, nhưng do tham lam, lười lao động, chỉ vì muốn có tiền tiêu xài mà bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố tình thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo Lê Phước H đã hoàn thành, việc bị phát hiện bắt giữ là hoàn toàn ngoài ý muốn của bị cáo, do đó Hội đồng xét xử thấy cần phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và để phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét bị cáo đã tích cực tác động, đề nghị gia đình bồi thường thiệt hại, nhằm khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và được bị hại bãi nại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình theo quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Và xét bị cáo nhất thời phạm tội, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; ngoài lần phạm tội này bị cáo không có vi phạm pháp luật nào khác; hiện có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng và có người bảo lãnh. Từ khi được tại ngoại đến nay, bị cáo đã không gây nguy hại, tôn trọng các quy tắc xã hội, chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân nơi cư trú, không vi phạm các điều mà pháp luật cấm. Ngoài ra, qua xem xét, đánh giá, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo mình để trở thành người công dân tốt, nên thấy không cần bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo được hưởng án treo với một thời gian thử thách nhất định theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 2 Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 vẫn đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, đồng thời thể hiện được sự khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo được sửa chữa những sai lầm đã phạm phải.

Những nhận định trên cũng là căn cứ để chấp nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, thì bị cáo Lê Phước H còn có thể bị phạt tiền từ 05 triệu đồng đến 50 triệu đồng. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập, đang ở cùng với gia đình, điều kiện kinh tế còn khó khăn. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Việc bồi thường thiệt hại: Bị cáo Lê Phước H đã chiếm đoạt của ông Võ Công T 01 túi xách màu đen (bên trong túi xách có 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max màu Gold, dung lượng 64Gb; 01 chiếc đồng hồ hiệu Apple Watch Series 5 màu Gold, bản LTE Cellular 44MM; 01 cây thuốc lá điện tử), Cơ quan điều tra Công an Quận 6 đã thu hồi chiếc điện thoại trả cho ông T (BL81), còn chiếc đồng hồ, chiếc túi xách và cây thuốc lá điện tử bị thiệt hại. Quá trình điều tra, mẹ của bị cáo là bà Đặng Thị Kiều Th đã thỏa thuận bồi thường cho ông T 10.000.000 đồng. Tại phiên tòa, ông T vắng mặt, nhưng tại Cơ quan điều tra ông T xác nhận đã nhận đủ tiền và không yêu cầu bồi thường gì thêm, đồng thời đã làm đơn bãi nại cho bị cáo (BL36, 37, 38), do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với số tiền 8.500.000 đồng mà ông Nguyễn Văn V bỏ ra để mua chiếc điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max màu Gold, dung lượng 64Gb bị cáo Lê Phước H. Ngày 03/01/2021, bà Đặng Thị Kiều Th đã hoàn trả lại cho ông V số tiền này (BL60), do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Còn số tiền 18.500.000 đồng mà bà Đặng Thị Kiều Th bỏ ra để bồi thường cho các ông Võ Công T, Nguyễn Văn V. Bà Th không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xét.

Việc xử lý vật chứng: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max màu Gold, số Imei 1: 356714118772868, số Imei 2: 356714119208276 thu giữ của bị cáo Lê Phước H. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị trả lại cho bị cáo vì không đủ căn cứ xác định do bị cáo phạm tội mà có hay bị cáo đã hoặc sẽ dùng vào việc phạm tội. Xét đề nghị của Viện kiểm sát là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

(theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 43/PNK ngày 18 tháng 5 năm 2021 và Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 02 tháng 6 năm 2021 của Công an Quận 6; Quyết định chuyển vật chứng số: 41/QĐ-VKS-Q6 ngày 27 tháng 5 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 6)

Đối với 01 USB màu xanh lá cây (chứa file dữ liệu ghi lại hình ảnh Lê Phước H cùng ông Võ Công T vào khách sạn HP ngày 13/12/2020 - BL114) đã được niêm phong, là chứng cứ lưu hồ sơ, do đó Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

Đối với ông Nguyễn Văn V, Viện kiểm sát xác định ông V không biết rõ chiếc điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max màu Gold và chiếc đồng hồ hiệu Apple Watch màu Gold mà ông mua từ bị cáo Lê Phước H là tài sản do phạm tội mà có, nên không truy cứu trách nhiệm hình sự, do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Bị cáo Lê Phước H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố bị cáo Lê Phước H (Mù U) phạm tội: «Trộm cắp tài sản».

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Lê Phước H (Mù U) 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm, kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Lê Phước H cho Ủy ban nhân dân Phường N, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Lê Phước H có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát và giáo dục đối với bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Căn cứ khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Trả lại bị cáo Lê Phước H 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max màu Gold, số Imei 1: 356714118772868, số Imei 2: 356714119208276.

- Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Lê Phước H phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

- Bị cáo Lê Phước H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại Võ Công T; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

- Đã giải thích chế định án treo đối với bị cáo Lê Phước H.

Cỡ chữ