- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Hoàng K - phạm tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (điều 145 Luật sửa đổi,…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Hoàng K phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2021/HS-ST Ngày: 30/3/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thạch Vũ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Vĩnh Lộc, nghề nghiệp: Bí thư Huyện Đoàn Củ Chi;
2. Ông Huỳnh Văn Bé, nghề nghiệp: Giáo viên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Minh Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 3 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự thụ lý số: 18/2021/TLST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2021 bị cáo:
Họ và tên: Võ Hoàng K, sinh năm: 1994 tại tỉnh Cà Mau. Hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở hiện nay: Ấp G, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Võ Hoàng T và bà: Nguyễn Thị Đ; bị cáo có vợ tên Lê Ngọc H, sinh năm: 1997, có 01 con sinh năm 2019; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khởi nơi cư trú (có mặt).
Bị hại: Cháu Nguyễn Xuân N, sinh ngày 26/5/2005; địa chỉ: Ấp K, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người đại diện theo pháp luật của bị hại: Chị Trần Thị Mộng X, sinh năm: 1984; địa chỉ: Ấp K, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 08/5/2020, Nguyễn Xuân N đến nhà trọ Hai Thận thuộc ấp Giữa, xã Tân Phú Trung, huyện Củ Chi là nơi tạm trú của Ngô Kiều D để tổ chức tiệc cùng những người bạn khác làm chung công ty, trong đó có Võ Hoàng K (là cậu ruột của D). Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, N, D, K và 02 người bạn đi ăn mì cay và uống trà sữa tại khu vực chợ Sáng thuộc địa phận xã Tân Phú Trung, huyện Củ Chi. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, K điều khiển xe môtô biển số 69D1-201.40 chở N về nhà. Khi K điều khiển xe môtô chở N đến đường Hồ Văn Tắng hướng về xã Tân Thạnh Đông thì K bị buồn nôn và nhức đầu lúc này N kêu K kiếm chỗ nằm nghỉ và phải về trước 12 giờ đêm. K chở N đi đến trước cổng nhà nghỉ Hoa Hồng thuộc ấp 6, xã Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi thì cả 02 vào thuê phòng số 14 để nằm nghỉ. Tại đây, N đồng ý cho K quan hệ tình dục với nhau 01 lần thời gian khoảng 03 đến 05 phút thì K xuất tinh vào bên trong âm đạo của N. Sau đó, K chở N về nhà.
Đến ngày 10/5/2020, bà Trần Thị Mộng X là mẹ của N phát hiện trong điện thoại N có tin nhắn của K kêu N uống thuốc tránh thai nên đã trình báo sự việc lên Công an xã Tân Phú Trung. Qua làm việc, K đã thừa nhận quan hệ tình dục với N 01 lần. Ngoài ra, cách thời điểm N và K quan hệ tình dục thì N đã có quan hệ tình dục với người khác tên N (chưa rõ lai lịch) tại địa phận tỉnh Tiền Giang nhưng không nhớ rõ địa chỉ cụ thể.
Bản kết luận giám định pháp y về tình dục số 73/TD.20 ngày 20/5/2020 của Trung tâm Pháp y Thành phố Hồ Chí Minh kết luận đối với Nguyễn Xuân N: Màng trinh giãn, không rách; không thấy tinh trùng trong dịch phết âm đạo và vùng hậu môn; hiện diện ADN người nam trong dịch phết âm đạo nhưng không đủ cơ sở so sánh với ADN của đối tượng; hiện diện ADN người nam trong dịch phết vùng hậu môn, đủ cơ sở so sánh với ADN của đối tượng.
Bản kết luận giám định pháp y về ADN số 1.123A-2020/AND ngày 22/6/2020 của Trung tâm Pháp y Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: ADN của Võ Hoàng K có hiện diện trong mẫu phết vùng hậu môn của Nguyễn Xuân N.
Vật chứng thu giữ:
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 màu đen, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho Võ Hoàng K.
- 01 giấy Chứng minh nhân dân số 381699053, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho Võ Hoàng K.
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo A5S, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị hại Nguyễn Xuân N.
- 01 giấy Chứng minh nhân dân số 312619565, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị hại Nguyễn Xuân N.
Tại Bản cáo trạng số 34/CT-VKS.CC ngày 19/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố Võ Hoàng K về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo khoản 1 Điều 145 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo Võ Hoàng K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi. Bị cáo thừa nhận việc Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” là đúng, không oan sai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã đánh giá tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” của bị cáo, đánh giá các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 145, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Võ Hoàng K mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ 01 phần hình phạt để có cơ hội phấn đấu trở thành một công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, đại diện theo pháp luật của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung, bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Tại các biên bản lấy lời khai, bị hại đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh và hình phạt: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Võ Hoàng K đã thừa nhận toàn bộ hành vi: Vào khoảng 21 giờ 00 phút, ngày 08/5/2020 tại phòng số 14 nhà nghỉ Hoa Hồng thuộc ấp 6, xã Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh Võ Hoàng K đã thực hiện hành vi giao cấu với sự đồng thuận của Nguyễn Xuân N, sinh ngày 26/5/2005. Lời khai nhận tội của các bị cáo là khách quan, phù hợp với lời khai của của bị hại, người liên quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, có đủ cơ sở để xác định hành vi nêu trên của bị cáo Võ Hoàng K đã phạm vào tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 145 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố đối với bị cáo Võ Hoàng K về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo khoản 1 Điều 145 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo phạm tội do cố ý, bị cáo đã có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến danh dự nhân phẩm của công dân và xâm phạm đến sự phát triển bình thường của trẻ em. Do đó, cần có mức hình phạt tương đối nghiêm khắc mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 100.000.000 đồng, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Mặt khác, bị hại và người đại diện theo pháp luật của bị hại có đơn xin bãi nạn cho bị cáo nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Đối với các vật chứng thu giữ trong vụ án đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi trả lại cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại và người đại diện theo pháp luật của bị hại đã nhận được số tiền bị cáo bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội của mình là 100.000.000 đồng và có đơn xin bãi nại cho bị cáo; đồng thời, tại phiên tòa sơ thẩm bị hại và người đại diện theo pháp luật vắng mặt, trong hồ sơ thể hiện bị hại và người đại diện theo pháp luật của bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Võ Hoàng K phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 145, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Võ Hoàng K 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Võ Hoàng K phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với bị cáo, đối với bị hại và người đại diện theo pháp luật của bị hại thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - Sở Tư pháp TP.HCM; - VKSND huyện Củ Chi; - Công an huyện Củ Chi; - Chi cục THADS huyện Củ Chi; - Bị cáo; - Bị hại; - Người đại diện theo pháp luật của bị hại; - Lưu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |