- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn, chia con chung"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: cho ly hôn giữa anh Đinh Thanh T và chị Đinh Thị V.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG BÌNH Bản án số: 66/2021/HNGĐ - ST Ngày: 30/7/2021 V/v ly hôn giữa anh T và chị V |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Đinh Đức Cảnh
Các Hội thẩm nhân dân: ông Trương Ngọc Nhân, bà Cao Thị Thu Ngà
- Thư ký phiên toà: ông Cao Lương Bằng – Thư ký Tòa án
- Đại diện VKSND huyện Minh Hóa tham gia phiên tòa: bà Đinh Thi Thanh Nga – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2021, tại phòng xử án, Toà án nhân dân huyện Minh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 40/2021/HNGĐ – TLST ngày 07 tháng 5 năm 2021 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/7/2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: anh Đinh Thanh T; sinh năm 1988
Địa chỉ: thôn B, xã X, huyện M, tỉnh Quảng Bình; có mặt.
2. Bị đơn: chị Đinh Thị V; sinh năm 1996
Địa chỉ: thôn B, xã T, huyện M, tỉnh Quảng Bình; có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 27/4/2021 và trong bản tự khai cũng như tại quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Đinh Thanh T trình bày:
- về hôn nhân: anh và chị V kết hôn năm 2017 tại UBND xã Xuân Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không có ai ép buộc, thời gian đầu hai vợ chồng chung sống hạnh phúc. Quá trình chung sống hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, không hợp tính tình, cách sống, hai vợ chồng cũng đã sống ly thân từ năm 2019, chị V cũng đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ để sinh sống. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh làm đơn yêu cầu được ly hôn với chị V.
- con chung của vợ chồng: hai vợ chồng có 02 con chung là cháu Đinh Thị Kim T, sinh ngày 15/3/2018 và Đinh Bảo N, sinh ngày 04/01/2020 hiện tại hai con đang ở với chị V ở thôn Bình Minh, xã Trung Hóa, nguyện vọng của anh T là xin được nuôi hai con không yêu cầu chị V đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.
- tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngày 15/7/2021, Tòa án xác minh việc vắng mặt của chị V tại Công an xã Trung Hóa được biết chị V có hộ khẩu thường trú tại thôn B, xã T, huyện M, tỉnh Quảng Bình, hiện không có mặt tại địa phương. Tòa án cũng tiến hành xác minh tại nhà của ông Đinh Xuân H – là bố đẻ của chị V được biết chị V đã nhận được thông báo thụ lý vụ án của Tòa án Minh Hóa, hiện tại chị V đã đi làm ăn ở tỉnh Đồng Nai do dịch Covid 19 nên không thể về được để giải quyết vụ án, ông cũng cam kết là nếu có giấy triệu tập hoặc các giấy tờ khác của Tòa án gửi cho chị V thì ông sẽ liên lạc để thông báo cho chị V biết.
Tòa án cũng đã tiến hành tống đạt và niêm yết quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập tại UBND xã Trung Hóa và trụ sở TAND huyện Minh Hóa.
Chị V không có ý kiến bằng văn bản theo thông báo thụ lý của Tòa án, cũng không đến Tòa án theo giấy triệu tập, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm và thông báo mở lại phiên tòa của Tòa án. Tòa án đã tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ theo quy định tại Điều 173 và Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chị V không đến Tòa án để giải quyết vụ án thể hiện thái độ không hợp tác với Tòa án nên căn cứ Bộ luật Tố tụng dân sự giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Ngày 22/7/2021, Tòa án Minh Hóa nhận được đơn xin xét xử vắng mặt của chị V, nội dung đơn: chị V đang làm ăn ở tỉnh Đồng Nai chị đang bị cách ly do dịch Covid 19 nên không về được để tham gia các phiên hòa giải và phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án Minh Hóa nên chị V làm đơn xin xét xử vắng mặt. Về quan hệ hôn nhân: đồng ý ly hôn với anh T; về con chung: hai vợ chồng có 02 con chung là cháu Đinh Thị Kim T, sinh ngày 15/3/2018 và Đinh Bảo N, sinh ngày 04/01/2020 chị V có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng hai con và yêu cầu anh T đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung; tài sản chung và nợ chung: không có.
Tại phiên tòa:
Anh T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị V. Về con chung: nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đinh Thị Kim T và không yêu cầu chị V đóng góp cấp dưỡng. Tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- về tố tụng: từ khi thụ lý vụ án đến khi Hội đồng xét xử vào nghị án thì Thẩm phán xác định về thẩm quyền, quan hệ pháp luật, tư cách đương sự, thời hạn chuẩn bị xét xử đúng quy định của pháp luật và thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát cũng đảm bảo. Tại phiên toà Hội đồng xét xử, thư ký cũng chấp hành đúng theo quy định của pháp luật. Đối với nguyên đơn đã chấp hành đúng theo quy định tại các Điều 68, 70, 71 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn cũng chấp hành đúng quy định của pháp luật.
- về nội dung: về hôn nhân: cho ly hôn giữa anh Đinh Thanh T và chị Đinh Thị V; về con chung: giao hai con chung là cháu Đinh Thị Kim T, sinh ngày 15/3/2018 và Đinh Bảo N, sinh ngày 04/01/2020 cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng, anh T phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 750.000 đ/con; tài sản chung, nợ chung: không có nên không xem xét; anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng: anh T yêu cầu giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con với chị V, tranh chấp trong vụ án là quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình, bị đơn cư trú tại thôn B, xã T, huyện M, tỉnh Quảng Bình, căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa.
Bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nguyên đơn đồng ý xét xử vắng mặt bị đơn, căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.
. Về quan hệ hôn nhân: anh T và chị V kết hôn với nhau vào năm 2017 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không có ai ép buộc và được UBND xã Xuân Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình cấp giấy chứng nhận kết hôn vì vậy đây là cuộc hôn nhân hợp pháp.
. Xét yêu cầu ly hôn của anh T: vợ chồng anh T, chị V không còn yêu thương, quý trọng, quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ lẫn nhau nữa thể hiện qua bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa. Hai vợ chồng có nhiều mâu thuẫn do bất đồng trong cuộc sống, hai vợ chồng cũng đã sống ly thân từ đầu năm 2019. Tòa án xét thấy tình trạng hôn nhân của anh T và chị V đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của anh T là có căn cứ phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
. Về con chung: hai vợ chồng có hai con chung là Đinh Thị Kim T, sinh ngày 15/3/2018 và Đinh Bảo N, sinh ngày 04/01/2020. Hội đồng xét xử xét thấy: hiện tại con đang ở chị V, cháu Ngọc dưới 36 tháng tuổi cần giao cháu Ngọc cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng là hợp lý, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Đối với yêu cầu nuôi dưỡng cháu T của anh T: khi cháu T được sinh ra được 12 tháng tuổi thì chị V đã đưa về bố mẹ đẻ để sinh sống và nuôi dưỡng, hiện tại cháu T đã quen với điều kiện, môi trường sống và được chị V nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo đảm điều kiện tốt nhất, nếu giao cháu T cho anh T nuôi dưỡng sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của cháu, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu T cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng là đảm bảo quyền lợi và tâm sinh lý của cháu T.
Căn cứ Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình cần buộc anh T phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi hai con chung mỗi tháng 750.000 đ/con cho đến khi hai con đủ 18 tuổi.
. Về tài sản chung và các khoản vay nợ chung: không có nên Hội đồng xét xử không xét.
. Xét ý kiến về việc giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát: chấp nhận ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án.
. Về án phí: theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, anh T phải chịu án phí sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn và phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về nghĩa vụ cấp dưỡng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; Điều 147, 227, 228, 235, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 và Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: cho ly hôn giữa anh Đinh Thanh T và chị Đinh Thị V.
2. Về quan hệ con chung: giao hai con chung là cháu Đinh Thị Kim T, sinh ngày 15/3/2018 và Đinh Bảo N, sinh ngày 04/01/2020 cho chị Đinh Thị V trực tiếp nuôi dưỡng.
Anh Đinh Thanh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con mỗi tháng 750.000đồng/con cho đến khi cháu T và N đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 118 của Luật hôn nhân và gia đình.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom đển cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con.
Khi cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con thì cha, mẹ trực tiếp nuôi con, cha, mẹ không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Toà án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: không có nên Tòa không xét.
4. Về án phí: anh Đinh Thanh T phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số: 0004445 ngày 07/5/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Minh Hoá, tỉnh Quảng Bình.
Án phí cấp dưỡng định kỳ: anh Đinh Thanh T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (30/7/2021). Đương sự vắng mặt tại phiên toà hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc hoặc bản án được niêm yết.
6. Quyền yêu cầu thi hành án dân sự: trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, và 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Minh Hóa; - THADS huyện Minh Hóa; - TAND tỉnh Quảng Bình; - UBND xã X; - Lưu hồ sơ. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Đinh Đức Cảnh HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THÂM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |