- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Bồi thường thiệt hại"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Thị Y.
- Căn cứ chính? Luật Thi hành án dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 66/2021/DSST Ngày: 29/11/2021 V/v “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Mai Văn Cười
2. Ông Nguyễn Tấn Đạt
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hữu Vĩnh- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Tuyền, Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 306/2020/TLST-DS ngày 02 tháng 11 năm 2020 về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2021/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 6 năm 2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
Đoàn Thị Y, sinh năm 19xx, có mặt
Địa chỉ: Ấp X, xã K, huyện G, tỉnh Tiền Giang;
Phan Thị L, sinh năm 19xx, có mặt
Địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang;
2. Bị đơn: Đoàn Văn M, sinh năm 19xx, vắng mặt
Địa chỉ: Khu phố 2, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang;
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Lý Minh H, sinh năm 19xx, vắng mặt
Địa chỉ: Khu phố 4, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang;
- Lê Văn H, sinh năm 19xx, vắng mặt
Địa chỉ: Ấp X, xã K, huyện G, tỉnh Tiền Giang;
- Đỗ Thái B, sinh năm 19xx, vắng mặt
Địa chỉ: Khu phố 3, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 28 tháng 9 năm 2020 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Đoàn Thị Y trình bày: Chồng bà Y là ông Nguyễn Văn S làm công trên tàu biển của ông Lý Minh H, đến buổi tối ngày 25/01/2020 âm lịch tàu của ông Đoàn Văn M va chạm vào tàu của ông H làm cho ông S đang đứng trên tàu bị rơi xuống biển chết, ông Lê Minh P (Chồng bà L) rơi xuống biển mất tích. Gia đình bà Y đã tổ chức mai táng cho ông S. Công an huyện Gò Công Đông có thụ lý hồ sơ, có mời lái tàu, thuyền viên làm việc và 02 chủ tàu để thương lượng, khi đó bà Y có yêu cầu ông M hổ trợ chi phí mai táng và tổn thất tinh thần, nhưng ông M không đồng ý nên bà Y khởi kiện yêu cầu ông M phải có trách nhiệm bồi thường tổn thất tinh thần cho bà Y số tiền 100.000.000 đồng, không yêu cầu chi phí mai táng ông S.
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 28 tháng 9 năm 2020 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Phan Thị L trình bày: Chồng của bà L là ông Lê Minh P làm công trên tàu biển của ông Lý Minh H. Vào tối ngày 25/01/2020 âm lịch tàu của ông M va chạm tàu của ông H, làm cho ông P đang ngồi trên mũi tàu bị rơi xuống biển mất tích và ông S (Chồng bà Y) rơi xuống biển chết. Đến nay bà L vẫn chưa có tung tích gì của ông P. Bà Lình yêu cầu ông M phải có trách nhiệm bồi thường tổn thất tinh thần cho bả L và con ông Phương là Lê Minh T số tiền 100.000.000 đồng.
* Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Đoàn Văn M trình bày: Ông M là chủ tàu số TG-91117TS .Quá trình tàu đi trên biển xảy ra va chạm tàu của ông H thì ông M không biết cụ thể. Sau khi sự việc xảy ra ông M có nghe lái tàu và các thuyền viên kể lại sự việc. Công an huyện Gò Công Đông có thụ lý hồ sơ và có Thông báo không khởi tố vụ án. Trước đây ông M có đồng ý hỗ trợ tiền cho bà Y, bà L mổi người 10.000.000 đồng là vì tình người chia sẽ khó khăn với gia đình ông S, ông P. Nhưng bà Y, bà L không đồng ý mà khởi kiện yêu cầu ông M bồi thường thiệt hại. Ông M không đồng ý bồi thường vì sự việc va chạm tàu là do nguyên nhân thời tiết, không phải do lỗi của bên ông M.
* Quá trình giải quyết vụ án ông Lý Minh H trình bày: Ông H là chủ tàu số TG90846, lái tàu là ông Lê Văn H, các thuyền viên trên tàu là Nguyễn Hoàng M, Nguyễn Quan H, Nguyễn Văn H, Nguyễn Thanh P, Lê Minh P (Chồng bà L), Nguyễn Văn S (Chồng bà Y). Vào ngày 18/02/2020 dương lịch, tàu của ông M (Tàu Minh Nhật) do ông Đỗ Thái B (Tên thường gọi là P) lái tàu va chạm vào tàu cá của ông H trên vùng biển Vũng Tàu. Nguyên nhân va chạm tàu nghe kể lại là do trời tối (khoản 21 giờ), có sóng to, gió lớn, tàu Minh Nhật va chạm vào đuôi tàu của ông H, làm cho tàu của ông H bị ngập nước khoảng 80% thân tàu, thì tàu Minh Nhật va chạm tàu của ông Hùng lần 2, nên neo của tàu Minh Nhật vướn vô tàu của ông H làm cho tàu ông H bị chìm. Anh S và anh P bị rơi xuống biển, anh S chết, anh P mất tích. Công an huyện Gò Công Đông đã có quyết định không khởi tố vụ án. Ông H đã hổ trợ chị Y tiền mai táng là 50.000.000 đồng, hổ trợ bù đắp tổn thất tinh thần cho chị L nhận 37.000.000 đồng. Sau khi bị va chạm tàu ông H có sửa chữa tàu tổng cộng chi phí 1,2 tỷ đồng. Hiện nay ông H đã có đơn khởi kiện vụ án dân sự khác, nên ông H không yêu cầu trong vụ án này.
* Quá trình giải quyết vụ án ông Lê Văn H và ông Đỗ Thái B vắng mặt không có lời trình bày:
* Ý kiến của Viện kiểm sát: Trong quá trình thụ lý và xét xử vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị căn cứ 584, 591 Bộ luật dân sự. Nghị quyết 03 ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Thị Y và bà Phan Thị L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Việc nộp đơn khởi kiện, thụ lý đơn và thẩm quyền giải quyết của Tòa án đúng quy định; Việc thu thập tài liệu chứng cứ, thủ tục kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử được thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Ông Lý Minh H, ông Lê Văn H, ông Đỗ Thái B được tống đạt hợp lệ phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt ông H, ông H, ông B. Người làm chứng được tống đạt hợp lệ phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ khoản 2 Điều 229 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt người làm chứng.
Xét yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Thị Y và bà Phan Thị L.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập 02 lái tàu là ông Lê Văn H và ông Đỗ Thái B, cùng các thuyền viên của 02 tàu va chạm nhau để lấy lời khai làm rõ nguyên nhân va chạm tàu. Tuy nhiên ông H, ông B và các thuyền viên không đến Tòa án để làm việc. Tòa án tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ tại cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Gò Công Đông xác định được: Vào khoảng 21giờ 30 phút ngày 18/02/2020 tại tọa độ 8029’ 14” N – 1070 49’ 44” E thuộc vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam xảy ra va chạm giữa tàu mang số hiệu TG90846TS do ông Lê Văn H điều khiển với tàu tải mang số hiệu TG91117TS do ông Đỗ Thái B điều khiển. Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến va chạm tàu là do thời tiết xấu, biển động mạnh, gió Đông Bắc liên tục mạnh cấp 6, có lúc cấp 7, giật cấp 7-8, sóng biển cao 2.0 – 4.0 m làm cho hai tàu va chạm mạnh vào nhau dẫn đến tai nạn làm cho ông Nguyễn Văn S rơi xuống biển tử vong do ngạt nước, thuyền viên Lê Minh P rơi xuống biển mất tích, tàu TG90846TS bị chìm gây thiệt hại. Công an huyện Gò Công Đông đã ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự số 1615 ngày 09/7/2020. Hội đồng xét xử nhận thấy thực tế có xảy ra va chạm tàu dẫn đến thiệt hại là do trở ngại khách quan, không có hành vi trái pháp luật, lái tàu, chủ tàu hoàn toàn không có lỗi. Bà Y, bà L không đưa ra chứng cứ chứng minh ông M, tàu của ông M có lỗi gây thiệt hại. Ông M không đồng ý bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của bà Y, bà L, không hỗ trợ khoản tiền nào. Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Y, bà L.
Án phí sơ thẩm: Bà Y, bà L được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 584, 591 Bộ luật dân sự, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 229 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, Luật thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Thị Y.
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị L.
Án phí sơ thẩm: Miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm cho bà Đoàn Thị Y, bà Phan Thị L.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND huyện GCĐ; - Các đương sự; - Lưu: HS, AV Hội thẩm nhân dân Mai Văn Cười Nguyễn Tấn Đạt | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Trần Văn Dũng HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Trần Văn Dũng |