vanban.org

Bản án 66/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần B.

Buộc anh Hà Quang V phải trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần B tổng số tiền 376.124.372 đồng (tiền gốc 270.000.000 đồng, tiền lãi 106.124.372 đồng). Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 03/8/2021) cho đến khi thi hành án xong, anh Hà Quang V còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần B với ông Hà Quang V"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần B.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG NĂNG
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2021/DS-ST
Ngày 02 - 8 - 2021
(V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG – TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Bá Bảy

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Lam

Ông Lê Đăng Huấn

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Công Hà – Thư ký TAND huyện Krông Năng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng tham gia phiên toà:

Bà Lê Trịnh Xuân Trang - Kiểm sát viên

Ngày 02 tháng 8 năm 2021, tại Tòa án nhân dân huyện Kông Năng tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 77/2021/TLST-DS ngày 24 tháng 02 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2021/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 6 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 65/2021/QĐST-DS ngày 12/7/2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần B.

Địa chỉ: Số 35 V, Quận K, Thành Phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan T. - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị

Người được ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Cao T, có mặt

Chức vụ: Phó giám đốc Phòng giao dịch Krông Năng – Chi nhánh Buôn Hồ.

Địa chỉ: Số 105 đường T, TT. K, huyện N, tỉnh Đắk Lắk.

(Văn bản ủy quyền ngày 22/6/2021)

- Bị đơn: Anh Hà Quang V, vắng mặt

Địa chỉ: Thôn T, xã X, huyện N, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 22/01/2021, lời khai tại Tòa án và lời trình bày tại phiên tòa của đại diện nguyên đơn:

Vào ngày 09/5/2018 anh Hà Quang V thỏa thuận ký kết Hợp đồng tín dụng số 01/2018/11033886/HĐTD với Ngân hàng thương mại cổ phần B để vay số tiền 270.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng tính từ ngày vay, mức lãi suất trong hạn 10,5%/năm, mức lãi suất quá hạn bằng 150% so với mức lãi suất trong hạn, đối với lãi suất chậm trả là 10%/ năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả; mục đích vay để chăm sóc cây hồ tiêu và cây cà phê. Ngày 08/10/2018 anh V đã trả cho Ngân hàng số tiền lãi suất 7.184.270 đồng; số tiền gốc và tiền lãi còn lại đến nay anh V vẫn chưa trả cho Ngân hàng.

Để đảm bảo cho các khoản vay anh Hà Quang V có thế chấp cho Ngân hàng thương mại cổ phần B số tài sản là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 01/2018/11033886/HĐBĐ ngày 09/5/2018 gồm: thửa đất số 87 tờ bản đồ số, 8.250,5m2, BT083267 do UBND huyện Krông Năng cấp ngày 10 tháng 11 năm 2016 mang tên Hà Quang V.

Nay đã quá thời hạn trả nợ theo hợp đồng tín dụng nhưng anh V vẫn không trả nợ. Vì vậy, Ngân hàng thương mại cổ phần B khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Hà Quang V phải trả nợ cho Ngân hàng số nợ gốc 270.000.000 đồng và lãi suất phát sinh còn lại theo hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết. Trường hợp anh V không trả nợ hoặc trả không hết nợ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý số tài sản mà anh V đã thế chấp cho Ngân hàng để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

- Bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng anh Hà Quang V vẫn không có mặt tại Tòa án và tại phiên tòa để tham gia tố tụng giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

+ Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đại diện cho nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng các quy định tại Điều 71 và Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn, mặc dù đã được Tòa án tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng vẫn không có mặt tại phiên tòa là không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung: Xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả nợ cho nguyên đơn số tiền gốc 270.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh theo quy định của pháp luật. Trường hợp bị đơn không trả hết nợ cho nguyên đơn thì nguyên đơn có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Đối với bị đơn, mặc dù đã được Tòa án đã niêm yết văn bản tố tụng hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ nội dung, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp thì đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng tỉnh Đắk Lắk theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Căn cứ vào lời khai của đương sự và Hợp đồng tín dụng số 01/2018/11033886/HĐTD ngày 09/5/2018 và hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2018/11033886/HĐBĐ ngày 09/5/2018 mà anh V đã ký kết với Ngân hàng thương mại cổ phần B, đã có đủ căn cứ khẳng định: Vào ngày 09/5/2018 anh V có vay của Ngân hàng thương mại cổ phần B số tiền gốc 270.000.000 đồng. Để đảm bảo cho việc trả nợ anh V thế chấp cho Ngân hàng thương mại cổ phần B quyền sử dụng đất + tài sản gắn liền trên đất theo Hợp đồng thế chấp số 01/2018/11033886/HĐBĐ ngày 09/5/2018 gồm: thửa đất số 87 tờ bản đồ số, 8.250,5m2, BT083267 do UBND huyện Krông Năng cấp ngày 10 tháng 11 năm 2016 mang tên Hà Quang V. Đến nay đã quá thời hạn trả nợ theo thỏa thuận nhưng anh V vẫn không trả nợ cho Ngân hàng. Như vậy, anh V đã vi phạm về nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần B, buộc anh V phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần B số tiền gốc 270.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh còn lại tính đến ngày xét xử sơ thẩm (02/8/2021) là 106.124.372 đồng, cụ thể: Tiền lãi trong hạn 74.952.740 đồng + tiền lãi quá hạn 26.874.247 đồng + tiền lãi chậm trả đối với số tiền lãi 4.297.385 đồng.

Như vậy, tổng số tiền mà anh Hà Quang V phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần B đến ngày xét xử sơ thẩm (02/8/2021) là 376.124.372 đồng. Ngoài số tiền trên anh V còn phải chịu khoản tiền lãi phát sinh kể từ ngày 03/8/2021 cho đến khi anh V thi hành án xong, theo mức lãi suất quá hạn mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 01/2018/11033886/HĐTD ngày 09/5/2018.

Trường hợp bị đơn không trả hết nợ cho nguyên đơn thì nguyên đơn có quyền yêu cầu xử lý tài sản mà nguyên đơn đã thế chấp để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn có nghĩa vụ trả lại giấy CNQSD đất cho bị đơn sau khi bị đơn trả hết nợ cho nguyên đơn.

. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên được trả lại số tiền đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Năng tỉnh Đắk Lắk.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 3 Điều 144; khoản 1 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 466; khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần B.

Buộc anh Hà Quang V phải trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần B tổng số tiền 376.124.372 đồng (tiền gốc 270.000.000 đồng, tiền lãi 106.124.372 đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 03/8/2021) cho đến khi thi hành án xong, anh Hà Quang V còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quá hạn mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 01/2018/11033886/HĐTD ngày 09/5/2018.

Trường hợp anh Hà Quang V không trả hết nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần B thì Ngân hàng thương mại cổ phần B có quyền yêu cầu xử lý số tài sản mà anh Hà Quang V đã thế chấp cho Ngân hàng thương mại cổ phần B theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất số 01/2018/11033886/HĐBĐ ngày 09/5/2018 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

Sau khi anh Hà Quang V trả hết nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần B thì Ngân hàng thương mại cổ phần B có nghĩa vụ trả lại cho anh Hà Quang V giấy CNQSD đất số BT083267 cấp ngày 10 tháng 11 năm 2016 mang tên Hà Quang V.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Anh Hà Quang V phải nộp 18.806.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngach.

Trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần B số tiền 9.403.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Năng tỉnh Đắk Lắk theo biên lai số AA/2019/0015265 ngày 04/02/2021.

3. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ