vanban.org

Bản án 66/2021/DS-ST — Dân sự

TAND huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau Tuyên án 09/03/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt S.

Buộc bà Võ Thị C, ông Nguyễn Văn T có trách nhiệm liên đới trả cho ông Nguyễn Việt S số tiền là 5.250.000 đồng (năm triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành á…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt S.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH CÀ MAU
—————
Bản án số: 66/2021/DS-ST
Ngày 09 - 3 - 2021
V/v Tranh chấp hợp đồng
mua bán tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Phước.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Quốc Toàn.

Ông Trần Hoàng Giang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

Ngày 09 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 711/2020/TLST-DS, ngày 18 tháng 12 năm 2020, về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2021/QĐXXST-DS, ngày 02 tháng 02 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

Ông Nguyễn Việt S, sinh năm 1977 (có mặt).

Nơi cư trú: Khóm A, thị trấn C, huyện P, tỉnh C.

- Bị đơn:

Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1990 (vắng mặt).

Bà Võ Thị C (Nguyễn Thị C), sinh năm 1995 (vắng mặt).

Cùng cư trú: Khóm B, thị trấn C, huyện P, tỉnh C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn là ông Nguyễn Việt S trình bày: Vào ngày 15/10/2019, bà Võ Thị C (theo đơn là Nguyễn Thị C) có mua 01 điện thoại Sam sung với giá là 5.190.000 đồng, thỏa thuận trả trong 06 tháng, mỗi tháng trả số tiền 975.000 đồng, bà Võ Thị C có ký tên vào biên nhận nợ. Ngày 15/01/2020, bà Võ Thị C trả 1.950.000 đồng; ngày 25/6/2020, ông Nguyễn Văn T trả 1.950.000 đồng. Bà Võ Thị C còn nợ 1.950.000 đồng. Vào ngày 25/6/2020, ông Nguyễn Văn T có mua 01 điện thoại Sam sung với giá là 4.300.000 đồng, thỏa thuận trả vào ngày 25/7/2020, ông Nguyễn Văn T có ký tên vào biên nhận nợ. Ông Nguyễn Văn T trả 03 lần tiền tổng cộng là 1.000.000 đồng vào các ngày 29/6/2020, 04/7/2020 và 07/7/2020. Ông Nguyễn Văn T còn nợ 3.300.000 đồng. Như vậy, bà Võ Thị C và ông Nguyễn Văn T còn nợ tổng số tiền là 5.250.000 đồng.Từ khi còn nợ đến nay bà Võ Thị C và ông Nguyễn Văn T không trả như thỏa thuận, ông có liên hệ đòi nhưng bà Võ Thị C và ông Nguyễn Văn T cứ hẹn và cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Bà Võ Thị C và ông Nguyễn Văn T là vợ chồng nên cả hai cùng phải có trách nhiệm trả nợ cho ông. Vì vậy, ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Võ Thị C, ông Nguyễn Văn T phải chịu trách nhiệm liên đới trả số tiền còn nợ là 5.250.000 đồng.

Bị đơn là bà Võ Thị C, ông Nguyễn Văn T đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, không cung cấp lời khai chứng cứ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng: Việc ông Nguyễn Việt S khởi kiện bà Võ Thị C, ông Nguyễn Văn T phải liên đới trả tiền từ việc mua điện thoại còn nợ nên đây là tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Ông Nguyễn Văn T và bà Võ Thị C được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với ông Nguyễn Văn T và bà Võ Thị C.

[2]. Về quan hệ tranh chấp: Ông Nguyễn Việt S xác định bà Võ Thị C và ông Nguyễn Văn T cả hai có thỏa thuận mua điện thoại di động tại cửa hàng của ông về sử dụng còn nợ của ông tổng số tiền là 5.250.000 đồng. Bà Võ Thị C, ông Nguyễn Văn T là người ký tên vào biên nhận nợ. Từ đó, có căn cứ xác định đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản được quy định tại Điều 430 và Điều 440 của Bộ luật Dân sự.

[3]. Về nội dung: Ông Nguyễn Việt S xác định là ông đã thỏa thuận mua bán đối với bà Võ Thị C và ông Nguyễn Văn T. Cụ thể: Bà Võ Thị C và ông Nguyễn Văn T có mua điện thoại di động tại cửa hàng của ông Nguyễn Việt S và còn nợ với tổng số tiền là 5.250.000 đồng. Quá trình mua điện thoại còn nợ thì bà Võ Thị C và ông Nguyễn Văn T có ký tên vào biên nhận nợ tiền. Từ khi mua hàng đến nay, bà Võ Thị C và ông Nguyễn Văn T không trả như thỏa thuận, ông Sử có liên hệ đòi nhưng bà Võ Thị C và ông Nguyễn Văn T cứ hẹn và cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Ông Nguyễn Văn T, bà Võ Thị C cùng phải liên đới trả tiền cho ông Nguyễn Việt S. Để chứng minh cho lời trình bày của mình, ông Nguyễn Việt S đã cung cấp 02 biên nhận nợ tiền ngày 15/10/2019 và ngày 25/6/2020 có nội dung bà Võ Thị C, ông Nguyễn Văn T còn nợ tổng số tiền 5.250.000 đồng từ việc mua điện thoại.

[4]. Đối với bà Võ Thị C, ông Nguyễn Văn T không có ý kiến gì về nội dung khởi kiện và chứng cứ do ông Nguyễn Việt S cung cấp và cũng không có yêu cầu phản tố. Do bà Võ Thị C, ông Nguyễn Văn T là vợ chồng, đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận đã ký kết nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt S là buộc bà Võ Thị C, ông Nguyễn Văn T phải có trách nhiệm liên đới trả nợ cho ông Nguyễn Việt S tổng số tiền là 5.250.000 đồng là có căn cứ để chấp nhận.

[5]. Về án phí: Do yêu cầu của ông Nguyễn Việt S được chấp nhận nên ông Nguyễn Văn T và bà Võ Thị C cùng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Áp dụng các điều 430, 440 của Bộ luật Dân sự.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt S.

Buộc bà Võ Thị C, ông Nguyễn Văn T có trách nhiệm liên đới trả cho ông Nguyễn Việt S số tiền là 5.250.000 đồng (năm triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc bà Võ Thị C, ông Nguyễn Văn T có trách nhiệm liên đới chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

Ông Nguyễn Việt S được nhận lại số tiền đã nộp tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012319 ngày 18 tháng 12 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Ông Nguyễn Việt S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Võ Thị C, ông Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ