vanban.org

Bản án 66/2020/HSST — Hình sự

TAND TX. Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 28/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Kim N phạm tội “Trộm cắp tài sản”, xử phạt bị cáo N 09 (chín) tháng tù.

Về án phí: Buộc bị cáo Trần Thị Kim N phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tran Thi Kim N - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Kim N phạm tội “Trộm cắp tài sản”, xử phạt bị cáo N 09 (chín) tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ PHÚ MỸ
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2020/HS – ST
Ngày: 28-5-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Nhung

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thế Phương

Bà Nguyễn Thị Kim Nhung

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hằng – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Phú Mỹ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hồng – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 59/2020/TLST – HS ngày 16 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2020/QĐXXST – HS ngày 15 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:

Trần Thị Kim N - Sinh năm 1988 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Hộ khẩu thường trú: 167/3/5/1 đường 26/3, phường B, quận BT, thành phố Hồ Chí Minh. Chỗ ở hiện nay: Đường số 3, khu phố T, phường PM, thị xã PM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T và bà (không rõ họ tên); Có chồng là Vũ Văn V và có 05 con (con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2019).

Tiền án: Ngày 02-12-2019 bị Tòa án nhân dân huyện LĐ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 127/2019/HSST.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có m t tại phiên tòa).

Bị hại: Chị Trần Thị Huỳnh M, sinh ngày 20-4-2005 (vắng m t)

Người đại diện theo pháp luật của chị My: Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1986 (vắng m t).

Cùng địa chỉ: Tổ 9, khu phố T, phường TP, thị xã PM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1980 (vắng m t).

Địa chỉ: Khu phố H, thị trấn LH, huyện LĐ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 26-12-2019, Trần Thị Kim N bế theo con gái tên Đoàn Thiên K, sinh năm 2018 đi bộ vào Siêu thị Coop Mart thuộc khu phố T, phường PM, thị xã PM, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu chơi. Đến 19 giờ 50 phút cùng ngày, N quan sát thấy quầy Trà Sâm Hồng trong siêu thị không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. N đến bên quầy trà, quan sát thấy không có ai để ý đến mình thì dùng tay phải kéo ngăn bàn của quầy trà và lấy trộm 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo F9 của chị Trần Thị Huỳnh M là nhân viên bán hàng tại quầy trà.

Sau khi trộm cắp được tài sản, N rời khỏi siêu thị và mang chiếc điện thoại trên đến tiệm cầm đồ Thanh Sơn thuộc khu phố H, thị trấn LH, huyện LĐ, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu do ông Nguyễn Thanh S làm chủ cầm cố với giá 2.000.000 đồng và đã tiêu xài cá nhân hết. Sau khi biết chiếc điện thoại mà N mang đến cầm cố là tài sản do trộm cắp mà có, ông S đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Phú Mỹ và không có yêu cầu gì thêm.

Sau khi mất tài sản, chị Trần Thị Huỳnh M đã trình báo sự việc lên Công an phường PM, thị xã Phú Mỹ. Qua xác minh, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Phú Mỹ đã mời Trần Thị Kim N đến làm việc và N khai nhận toàn bộ hành vi lấy trộm chiếc điện thoại của chị M.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐ.ĐGTS ngày 13-01-2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND thị xã PM kết luận: Giá trị 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo loại F9, màu xanh đen, mua mới tháng 02 năm 2019, đã qua sử dụng, tính đến ngày 26-02-2019 là khoảng 2.200.000đ (hai triệu hai trăm ngàn đồng).

Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thị xã PM đã trả lại cho chị Trần Thị Huỳnh M chiếc điện thoại di động hiệu Oppo F9 theo Quyết định xử lý vật chứng số 21/QĐ ngày 07/02/2020.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Trần Thị Huỳnh M và ông Nguyễn Thanh S không có yêu cầu bồi thường.

Tại Cáo trạng số 73/CT-VKS ngày 14-4-2020, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã truy tố Trần Thị Kim N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”; đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo N từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù; đề nghị áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt chung với Bản án số 127/2019/HSST ngày 02-12-2019 của Tòa án nhân dân huyện LĐ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu.

Bị cáo N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Qua xem xét toàn bộ hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử thấy rằng trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Điều tra và Viện kiểm sát đã tuân thủ nghiêm thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định tại các điều 88, 98, 105 Bộ luật Tố tụng hình sự; Quá trình điều tra không có bức cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án và tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, qua đối chiếu với lời khai tại cơ quan điều tra, kết luận định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhận thấy phù hợp với nhau, do vậy đủ căn cứ kết luận:

Vào khoảng 19 giờ 50 phút ngày 26-12-2019, tại siêu thị Coop Mart thuộc khu phố T, phường PM, thị xã PM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Trần Thị Kim N có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động hiệu Oppo F9 trị giá 2.200.000 đồng của chị Trần Thị Huỳnh M. Đối chiếu với quy định của pháp luật, hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Đối với hành vi cầm cố chiếc điện thoại Oppo F9 của ông Nguyễn Thanh S: Khi N mang điện thoại đến cầm cố, ông S không biết đây là tài sản do N trộm cắp mà có nên không có căn cứ xem xét xử lý ông S về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Về tính chất, mức độ đối với hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân. Ngoài ra còn tác động xấu đến tình hình trật tự, trị an ở địa phương. Ngày 02-12-2019, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện LĐ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc mới tương xứng với các hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo biết tôn trọng pháp luật đồng thời cũng nhằm mục đích phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo bị áp dụng tình tiết “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có việc làm, hiện đang nuôi con nhỏ. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Trần Thị Huỳnh M và ông Nguyễn Thanh S không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Kim N phạm tội “Trộm cắp tài sản”, xử phạt bị cáo N 09 (chín) tháng tù.

Căn cứ khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt chung với Bản án số 127/2019/HSST ngày 02-12-2019 của Tòa án nhân dân huyện LĐ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Buộc bị cáo Trần Thị Kim N phải chấp hành hình phạt chung là 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án.

2. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Thị Kim N phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng m t, thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án ho c bản án được niêm yết.

Cỡ chữ