vanban.org

Bản án 66/2020/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Hải Dương Tuyên án 07/07/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 07/07/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trần Thế H; sửa bản án hình sự sơ thẩm số 15/2020/HSST ngày 17/4/2020 của Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Hải Dương về phần hình phạt và áp dụng pháp luật.

Điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 174; điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 15, khoản 3 Điều 57, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016: Xử phạt bị cáo Trần Thế H 42 (Bốn mươi hai) tháng tù v… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần Thế H phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trần Thế H; sửa bản án hình sự sơ thẩm số 15/2020/HSST ngày 17/4/2020 của Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Hải Dương về phần hình phạt và áp dụng pháp luật.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 15 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2020/HSPT
Ngày 07/07/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Yển.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Mạnh Cường và bà Nguyễn Thị Thu Hoài

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 73/2020/TLPT-HS ngày 03 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo Trần Thế H, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 15/2020/HSST ngày 17/4/2020 của Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Hải Dương.

* Bị cáo kháng cáo:

Trần Thế H, sinh năm 1966 tại xã Q, huyện S, tỉnh Hải Dương; ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn X, xã Q, huyện S, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thế K và bà Vũ Thị G; vợ là Vũ Thị L, sinh năm 1967 và có 02 con, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 1991; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 30/7/2012, Công an huyện S xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc, đã chấp hành xong ngày 03/10/2012; Bị cáo tại ngoại; có mặt tại phiên tòa, vắng mặt khi tuyên án.

* Bị hại: UBND xã Q, huyện S, tỉnh Hải Dương.

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Bá D - Chủ tịch UBND xã.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Công V - Cán bộ Tư pháp xã.

(Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do biết chính sách Nhà nước hỗ trợ tiền cho người chăn nuôn lợn bị dịch tả lợn Châu Phi trên địa bàn xã Q với số tiền 52.000đồng/kg lợn sề nên sáng ngày 18/4/2019, Trần Thế H nảy sinh ý định đi mua 02 con lợn sề với số tiền 5.000.000 đồng của anh Nguyễn Đình T, sinh năm 1970 ở Xã A, Thị xã Đ, Quảng Ninh (anh T không biết mục đích của H) mang về nhà để chiếm đoạt số tiền hỗ trợ của Nhà nước thông qua Uỷ ban nhân dân xã Q. Khoảng 23 giờ cùng ngày, H gọi điện cho bà Trần Thị Q, sinh năm 1965 là người cùng thôn và biết nhà bà Q chưa tiêu huỷ lợn nên nhờ bà Q thông báo cho Uỷ ban nhân dân xã Q tiêu huỷ (do nhà H đã tiêu huỷ nên không thể thông báo), bà Q đồng ý. H chở 02 con lợn đã mua trên đến để ở chuồng sau nhà bà Q rồi đi về.

Sáng ngày 19/4/2019, bà Q gọi điện cho chị Lê Thị M là cán bộ thú y của xã Q (là người tiếp nhận thông tin và thống kê lợn bị dịch bệnh tả Châu Phi tiêu huỷ) thông báo gia đình bà có 04 con lợn bị nhiễm bệnh dịch tả Châu Phi cần tiêu huỷ. Khoảng 08 giờ cùng ngày, chị M cùng đoàn liên ngành đến cân, lập biên bản và đưa đi tiêu huỷ 04 con lợn sề với tổng trọng lượng 663kg (tổng số tiền được hỗ trợ là 34.460.000 đồng), trong đó 02 con lợn sề của H gửi là 128 kg và 151 kg (tổng số tiền hỗ trợ là 14.508.000 đồng). Sau khi tiêu huỷ, đoàn liên ngành đã báo cáo Uỷ ban nhân dân xã Q lập danh sách số lợn đã tiêu hủy và số tiền được hỗ trợ trên để được hỗ trợ theo quy định. Đến ngày 21/4/2019, Công an xã Q nhận được tin báo của quần chúng nhân dân đã báo cáo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S tiến hành xác minh, điều tra làm rõ vụ việc trước khi H nhận được số tiền hỗ trợ trên.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2020/HSST ngày 17/4/2020,Tòa án nhân dân huyện S đã căn cứ điểm c khoản 3 Điều 174; Điều 15; điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38;khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016; Xử phạt bị cáo Trần Thế H 54 (Năm mươi tư) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 23/4/2020 bị cáo Trần Thế H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo Trần Thế H giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt HĐXX) xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh tham gia phiên tòa sau khi phân tích các tình tiết của vụ án xác định cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Thế H về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là đúng pháp luật. Tại cấp phúc thẩm bị cáo tự nguyện nộp án phí thể hiện sự ăn năn hối cải, cấp sơ thẩm xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, nhưng áp dụng thiếu Điều 54 BLHS nên cần áp dụng thêm. Đề nghị HĐXX: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; chấp nhận một phần kháng cáo, giảm một phần hình phạt cho bị cáo; xử phạt bị cáo từ 39 đến 42 tháng tù. Bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Bị cáo Trần Thế H kháng cáo trong thời hạn luật định nên là kháng cáo hợp lệ.

. Xét kháng cáo của bị cáo Trần Thế H:

Tại phiên tòa, bị cáo trình bày lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo tại cấp sơ thẩm, lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác, nên có đủ căn cứ kết luận: Do biết chính sách Nhà nước hỗ trợ tiền cho người chăn nuôn lợn bị dịch tả lợn Châu Phi trên địa bàn xã Q, huyện S, với số tiền hỗ trợ là 52.000đồng/kg lợn sề. Trần Thế H nảy sinh ý định gian dối chiếm đoạt tiền hỗ trợ của Nhà nước nên sáng ngày 18/4/2019, H đi mua 02 con lợn sề với số tiền 5.000.000đồng của anh Nguyễn Đình T, sinh năm 1970 ở Xã A, Thị xã Đ, Quảng Ninh đem về báo bị dịch để tiêu hủy hưởng lợi số tiền chênh lệch. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, H mang 02 con lợn trên đến gửi nhà bà Trần Thị Q ở thôn X, xã Q, huyện S để thông báo Uỷ ban nhân dân xã Q tiêu huỷ. Bà Q tưởng lợn nhà của H và không biết mục đích chiếm đoạt của H nên đã đồng ý. Khoảng 08 giờ ngày 19/4/2019, sau khi nhận được thông báo của gia đình bà Q, đoàn liên ngành xã Q đến nhà bà Q cân, lập biên bản và đưa đi tiêu huỷ 04 con lợn sề bị dịch với tổng trọng lượng 663 kg (tổng tiền được hỗ trợ là 34.460.000 đồng), trong đó 02 con lợn sề của H có tổng trọng lượng là 279 kg với tổng số tiền được hỗ trợ H chiếm đoạt là 14.508.000 đồng. Trong khi đợi Ủy ban nhân dân xã Q cấp tiền hỗ trợ của Nhà nước thì H bị phát hiện.

Hành vi của bị cáo lợi dụng vào thời điểm dịch tả lợn Châu Phi, khi Nhà nước có chính sách hỗ trợ đối với các hộ chăn nuôi, bị cáo H dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản là tiền hỗ trợ của Nhà nước khi tiêu hủy lợn bị dịch, nên thuộc trường hợp phạm tội “Lợi dụng dịch bệnh”. Vì vậy bị cáo Trần Thế H bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điểm c khoản 3 Điều 174 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Về tội danh bị cáo không kháng cáo và Viện kiểm sát nhân dân không kháng nghị.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo thì thấy: Cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, hành vi phạm tội của bị cáo chưa gây thiệt hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Hành vi phạm tội của bị cáo chưa thực hiện được đến cùng vì bị phát hiện, ngăn chặn nên hậu quả chưa xảy ra thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt, nên cấp sơ thẩm áp dụng Điều 15, khoản 3 Điều 57 BLHS là đúng pháp luật. Bản án sơ thẩm đã xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, nhưng không áp dụng Điều 54 BLHS là thiếu. Tại cấp phúc thẩm bị cáo tự nguyện nộp trước án phí sơ thẩm thể hiện sự ăn năn hối cải, nhưng do bị cáo thực hiện hành vi phạm tội có tính chất dự mưu từ trước, thủ đoạn gian dối lợi dụng dịch bệnh, chiếm đoạt tiền hỗ trợ của Nhà nước, mức hình phạt cao, nên không đủ điều kiện để cho hưởng án treo theo 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, mà chỉ có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo H, giảm một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung với xã hội.

. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, HĐXX không xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

. Về án phí: Kháng cáo của bị cáo Trần Thế H được chấp nhận một phần nên bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm hình sự theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án lệ phí.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trần Thế H; sửa bản án hình sự sơ thẩm số 15/2020/HSST ngày 17/4/2020 của Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Hải Dương về phần hình phạt và áp dụng pháp luật.

2. Điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 174; điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 15, khoản 3 Điều 57, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016:

Xử phạt bị cáo Trần Thế H 42 (Bốn mươi hai) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án.

3. Về án phí: Bị cáo Trần Thế H không phải chịu án phí phúc thẩm hình sự.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (Ngày 07/7/2020). N¬i nhËn:

Cỡ chữ