- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Ph yêu cầu ly hôn với ông L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Kim Ph về việc ly hôn đối với ông Trần Văn L.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2020/HNGĐ-ST Ngày: 17-8-2020 V/v ly hôn giữa bà Ph và ông L |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LONG AN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ Toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thùy Trang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Kim Sơn.
2. Bà Lâm Thị Ngọc Huệ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thủy Tiên – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện C , tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C , tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Thơ - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 151/2020/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2020 về tranh chấp ly hôn và nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2020/QĐST-HNGĐ ngày 28/7/2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phạm Kim Ph, sinh năm 1977;
Nơi ĐKHKTT: Ấp 4, xã P, huyện C , tỉnh Long An.
Chỗ ở hiện tại: Ấp 3, xã Tân Ân, huyện C , tỉnh Long An.
2. Bị đơn: Ông Trần Văn L, sinh năm 1974;
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện tại: Ấp 4, xã P, huyện C , tỉnh Long An.
(Bà Ph có mặt, ông L vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 08/5/2020 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn bà Phạm Kim Ph trình bày: bà và ông L cưới nhau vào năm 1999, do tìm hiểu tự nguyện, sau đó có đăng ký kết hôn vào ngày 10/12/2002 tại UBND xã Phước Đông, huyện C , tỉnh Long An. Thời gian đầu vợ chồng chung sống bình thường, đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm dẫn đến cãi vả. Ngoài ra, ông L còn rượu chè, cờ bạc không lo cho vợ con, bà khuyên nhiều lần không kết quả, vợ chồng ly thân từ ngày 02/9/2016 đến nay. Nay bà thấy không còn tình cảm với ông L, vợ chồng không còn khả năng hàn gắn nên yêu cầu ly hôn với ông L.
Về nuôi con chung: Vợ chồng có 03 con chung tên Trần Thị Ng, sinh ngày 20/11/2002; Trần Quốc Th, sinh ngày 10/11/2007 và Trần Thế D, sinh ngày 13/10/2014, hiện 03 con đang sống chung với bà. Khi ly hôn, bà yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi 03 con chung và không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con, hiện tại bà có thu nhập và nơi sống ổn định đảm bảo điều kiện chăm sóc con chung.
Về chia tài sản: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: vợ chồng không có nợ chung.
Đối với bị đơn ông Trần Văn L, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo phiên tòa hợp lệ nhưng ông L không nộp văn bản nêu ý kiến và cũng không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải, phiên tòa.
- Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các bước tiến hành tố tụng như thông báo thụ lý, thông báo hòa giải giữa các đương sự nên việc Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử là phù hợp. Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng: Đối với ông Trần Văn L, Tòa án đã tống đạt các thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng ông Trần Văn L không đến tham dự phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xử vắng mặt ông Trần Văn L.
. Về nội dung: Bà Phạm Kim Ph và ông Trần Văn L cưới nhau vào năm 1999, có đăng ký kết hôn ngày 10/12/2002 tại UBND xã Phước Đông, huyện C , tỉnh Long An là hôn nhân hợp pháp. Bà Ph khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông L là quan hệ tranh chấp ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo qui định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.
. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn theo bà Ph trình bày do trong quá trình chung sống tính tình không hòa hợp, ông L không quan tâm chăm sóc vợ con, bà khuyên ông L nhiều lần nhưng ông L không thay đổi dẫn đến cãi vã, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, vợ chồng ly thân từ ngày 02/9/2016 đến nay. Trong thời gian ly thân vợ chồng không quan tâm đến nhau và không có thiện chí hàn gắn với nhau nên bà Ph yêu cầu ly hôn với ông Lợi. Đối với ông Lợi, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng ông L vẫn không đến Tòa án để giải quyết cho thấy ông L không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà Ph.
. Hội đồng xét xử xét thấy giữa bà Ph và ông L đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cần xử chấp nhận cho bà Ph được ly hôn với ông Lợi.
. Về nuôi con chung: bà Ph và ông L có 03 con chung tên Trần Thị Ng, sinh ngày 20/11/2002; Trần Quốc Th, sinh ngày 10/11/2007 và Trần Thế D, sinh ngày 13/10/2014, hiện 03 con đang sống chung với bà Ph, khi ly hôn bà Ph yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi 03 con chung. Hội đồng xét xử xét thấy, từ lúc vợ chồng ly thân đến nay con chung sống với bà Ph đang có cuộc sống ổn định, các con chung có nguyện vọng sống chung với bà Ph nên bà Ph yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung là phù hợp cần chấp nhận. Do bà Ph không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.
. Ông L không trực tiếp nuôi con nhưng được quyền đến thăm nom chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản. Nếu ông L có căn cứ chứng minh bà Ph hạn chế quyền thăm nom con hoặc không bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của con thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng một vụ án khác.
. Về tài sản chung bà Ph không yêu cầu giải quyết và nợ chung bà Ph trình bày không có nên Hội đồng xét xử không đề cập đến. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ án khác.
. Về án phí: bà Ph phải chịu án phí theo qui định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Kim Ph về việc ly hôn đối với ông Trần Văn L.
Về hôn nhân: bà Phạm Kim Ph được ly hôn với ông Trần Văn L.
Về nuôi con chung: Bà Ph được quyền tiếp tục trực tiếp nuôi 03 con chung tên Trần Thị Ng, sinh ngày 20/11/2002; Trần Quốc Th, sinh ngày 10/11/2007 và Trần Thế D, sinh ngày 13/10/2014. Ông L không phải cấp dưỡng nuôi 03 con nhưng được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Về án phí: bà Phạm Kim Ph phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0008399 ngày 18/5/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C , tỉnh Long An, bà Ph đã nộp đủ án phí.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Về việc thi hành án: Trường hợp bản án, quýêt định đựơc thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người đựơc thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự được quỳên thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện C ; - Chi cục THADS huyện; - UBND nơi ĐKKH; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thùy Trang |