- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lê Phương L phạm tội “Cướp giật tài sản”. - phạm tội cướp tài sản (điều 133 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Lê Phương L phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. LIÊN CHIỂU - TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| --------------------- Bản án số: 66/2019/HSST Ngày: 04/6/2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU - TP. ĐÀ NẴNG.
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Cúc.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Chi
Bà Huỳnh Thị Lệ
- Thư ký phiªn tßa: Bà Phạm Thái Trâm Anh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 56/2019/HSST ngày 25/4/2019 đối với bị cáo:
- Lê Phƣơng L. Sinh ngày: 02/02/1992 tại tỉnh Bình Đ. Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Bình Đ. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ văn hóa: 12/12. Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Ngọc D và bà Hà Thị T.
Tiền án, tiền sự: Chưa.
Bị cáo bị bắt ngày 16/01/2019. Có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại:
- Chị Đinh Thị T - Sinh năm: 1979. Địa chỉ: Số 02 đường Đ, tổ 50, phường H, quận L, thành phố Đ. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21h30’ ngày 16/01/2019, Lê Phương L đi bộ đến quán cà phê của chị Đinh Thị T tại số 02 đường Đ, tổ 50, phường H, quận L, thành phố Đ để xem bóng đá. Đến khoảng 22h30’ cùng ngày, trong lúc xem bóng đá L thấy chị T đang ngồi đếm tiền nên nảy sinh ý định cướp giật số tiền này để tiêu xài cá nhân. L đi đến sau lưng chị T rồi bất ngờ dùng tay giật xấp tiền 25.000.000 đồng của chị T đang cầm trên tay rồi bỏ chạy. Bị giật tài sản, chị T tri hô và cùng người dân đuổi theo L. L bỏ chạy đến khu vực ngã ba đường N và đường V, phường H, quận L, thành phố Đ thì bị người dân bắt giữ. Trên đường bỏ chạy, L đã vứt bỏ số tiền nên không thu hồi được.
Về dân sự: Lê Phương L đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại chị Đinh Thị T số tiền 25.000.000 đồng, chị T đã nhận tiền, không có yêu cầu gì thêm về dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại bản cáo trạng số 58/CT-VKS ngày 24/4/2019 bị cáo Lê Phương L bị Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng truy tố về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 BLHS.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và căn cứ vào tính chất, mức độ, nhân thân của bị cáo Lê Phương L, đề nghị HĐXX:
- Áp dụng điểm khoản 1 Điều 171 BLHS, Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Lê Phương L từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”.
Về phần dân sự: Gia đình bị cáo Lê Phương L đã bồi thường cho chị Đinh Thị T số tiền 25.000.000 đồng, chị T đã nhận tiền, không có yêu cầu gì thêm nên không đề cập.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lê Phương L đã khai báo thành khẩn hành vi phạm tội của mình. Bị cáo L cho rằng cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 BLHS là đúng người, đúng tội. Bị cáo đã thấy được sai trái, xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:
Khoảng 22h30’ ngày 16 tháng 01 năm 2019 tại số 02 đường Đ, tổ 50, phường H, quận L, thành phố Đ, Lê Phương L thực hiện hành vi cướp giật số tiền trị giá 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng) của chị Đinh Thị T rồi tẩu thoát thì bị phát hiện, truy đuổi và bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo Lê Phương L đã bị Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng truy tố về tội “Cướp giật tài sản” là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Xét tính chất nghiêm trọng của vụ án, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo thì thấy: Trong T gian qua tình trạng cướp giật tài sản vẫn còn xảy ra trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, cần phải được ngăn chặn kịp T. Trong lúc xem bóng đá L thấy chị T đang ngồi đếm tiền nên nảy sinh ý định cướp giật số tiền này để tiêu xài cá nhân. L đi đến sau lưng chị T rồi bất ngờ dùng tay giật xấp tiền 25.000.000 đồng của chị T đang cầm trên tay rồi bỏ chạy. Hành vi của bị cáo Lê Phương L không những trực tiếp xâm phạm tài sản của người khác mà còn gây mất trật tự trị an xã hội, đã phạm vào khoản 1 điều 171 BLHS có mức hình phạt từ một năm đến năm năm nên cần phải xử phạt với mức án nghiêm minh mới có đủ tác dụng giáo dục riêng và ngăn ngừa chung.
Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo Lê Phương L như: Nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, thái độ khai báo thành khẩn, biết ăn năn hối cải, đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho người bị hại và người bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên xét chiếu cố giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt khi lượng hình theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lê Phương L đã tác động gia đình bồi thường cho chị Đinh Thị T số tiền 25.000.000 đồng, chị T không yêu cầu gì thêm nên không đề cập.
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Lê Phương L phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố:
Bị cáo Lê Phương L phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 171, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt:
- Lê Phƣơng L 15 (Mƣời lăm) tháng tù. T gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/01/2019.
2. Về án phí: Bị cáo Lê Phương L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí HSST.
5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Riêng người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án tại địa phương nơi cư trú.
| Nơi nhận: - Viện KSND quận Liên Chiểu; - Viện KSND TP. Đà Nẵng; - Chi cục T.H.A DS Q.Liên Chiểu; - Công an quận Liên Chiểu; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Kim Cúc |