- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa nguyên đơn ông Lê Minh T và bị đơn bà Nguyễn Thị Thùy N"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận cho ông Lê Minh T được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thùy N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2019/HNGĐ-ST Ngày 29/10/2019 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Lơn
Ông Trần Huy Toàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phƣơng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Hải – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hoà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 261/2019/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2019 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 9 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 60/2019/HPT-ST ngày 11 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Lê Minh T, sinh năm 1990
Địa chỉ: Tổ 24 HR, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thùy N, sinh năm 1993
Địa chỉ: Thôn HT2, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 28/5/2019, lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Lê Minh T trình bày:
Ông và bà Nguyễn Thị Thùy N kết hôn năm 2017, đăng ký kết hôn tại UBND phường V, thành phố N. Sau khi kết hôn ông bà chung sống hạnh phúc, đến năm 2018 do xuất phát từ vấn đề kinh tế gia đình nên giữa hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên xảy ra tranh cãi. Từ mâu thuẫn của hai vợ chồng, bà N bỏ về sống cùng bố mẹ tại xã N, thị xã N, ông đã nhiều lần tìm bà N để khuyên bà quay về vợ chồng đoàn tụ nhưng bà không đồng ý. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, thực tế ông và bà N không còn sống chung từ tháng 5 năm 2018 cho đến nay nên ông yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thùy N. Về con chung, ông T khai ông và bà N không có con chung. Về tài sản chung, nợ chung ông T khai không có nên không yêu cầu tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Thùy N: Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa đã tiến hành thực hiện các thủ tục triệu tập, xác minh và niêm yết hợp lệ để lấy lời khai theo đúng quy định của pháp luật nhưng bà N cố tình trốn tránh không đến Tòa án để giải quyết và cũng không có ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu khởi kiện của ông Lê Minh T nên Tòa án đưa vụ án ra giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án là đúng theo quy định. Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Thùy N đã được Tòa án triệu tập, xác minh, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà cố tình trốn tránh không có mặt tại tòa để làm việc nhằm bảo vệ quyền lợi cho mình do đó tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bà N là đúng theo quy định của pháp luật.
Về thu thập tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án đến trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án đã thực hiện việc thu thập tài liệu chứng cứ theo quy định.
Về nội dung vụ án: Về hôn nhân, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc ly hôn; Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Ông Lê Minh T khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét; Về án phí đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn bà Nguyễn Thị Thùy N đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt; Tòa án đã tiến hành thủ tục niêm yết tại địa phương và nơi cư trú, do đó Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng với qui định tại Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Ông Lê Minh T và bà Nguyễn Thị Thùy N tự nguyện kết hôn năm 2017, có đăng ký kết hôn tại UBND phường V, thành phố N và đã được Ủy ban nhân dân phường cấp giấy chứng nhận kết hôn số 22 ngày 16/02/2017. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa ông T và bà N là hợp pháp.
Trong quá trình chung sống, giữa ông T và bà N thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm dẫn đến tranh cãi nên bà N bỏ nhà về sống cùng bố mẹ. Mặc dù ông T đã cố gắng thay đổi và khuyên bà N quay về đoàn tụ nhưng bà N không đồng ý, mâu thuẫn vợ chồng vẫn không hàn gắn được và ngày càng trầm trọng hơn. Hội đồng xét xử xét thấy, xuất phát từ những bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng làm rạn nứt tình cảm, việc quan tâm, chăm sóc lẫn nhau không còn và đã đến mức trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, thực tế hai ông bà cũng không còn sống chung từ tháng 5 năm 2018 cho đến nay. Vì vậy, có duy trì quan hệ hôn nhân này cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai và mục đích của hôn nhân cũng không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Lê Minh T đối với bà Nguyễn Thị Thùy N.
Về con chung: Ông Lê Minh T khai giữa ông và bà Nguyễn Thị Thùy N không có con chung.
Về tài sản chung: Ông Lê Minh T khai ông và bà Nguyễn Thị Thùy N không có tài sản chung nên HĐXX không xét.
Về nợ chung: Ông Lê Minh T khai ông và bà Nguyễn Thị Thùy N không có nợ chung nên HĐXX không xét.
Về án phí: Ông Lê Minh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho ông Lê Minh T được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thùy N.
2. Về con chung: Ông Lê Minh T và bà Nguyễn Thị Thùy N không có con chung.
3. Về tài sản chung: Ông Lê Minh T khai ông và bà Nguyễn Thị Thùy N không có tài sản chung nên HĐXX không xét.
4. Về nợ chung: Ông Lê Minh T khai ông và bà Nguyễn Thị Thùy N không có nợ chung nên HĐXX không xét.
5. Về án phí: Ông Lê Minh T phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tại biên lai số AA/2018/0008602 ngày 16 tháng 7 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa. Như vậy ông Lê Minh T đã nộp đủ án phí.
Quyền kháng cáo: Ông Lê Minh T có quyền kháng cáo bản án yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bà Nguyễn Thị Thùy N vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hòa - VKSND thị xã Ninh Hòa; - Chi cục THADS thị xã Ninh Hòa; - UBND phường Vĩnh Phước, thành phố Nha Trang (Giấy CNKH số 22, ngày 16/02/2017); - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Thu Hiền |