vanban.org

Bản án 66/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Hồng T, ông Võ Hồng T được ly hôn với bà Phạm Thị M.

Về con chung: Ông T và bà M có 01 con chung là cháu Võ Phạm Gia H, sinh ngày 05/3/2008. Khi ly hôn, giao cháu H cho bà M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời ông T không phải cấp dưỡng nuôi con. Ông T được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "Ông T xin ly hôn bà M"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Hồng T, ông Võ Hồng T được ly hôn với bà Phạm Thị M.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 26-6-2019
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHAÂN DANH

NÖÔÙC COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM

TOØA AÙN NHAÂN DAÂN THAØNH PHOÁ B - TÆNH ÑOÀNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Phương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Doãn Đức – Cán bộ hưu trí

Bà Nguyễn Thị Nhạn – Cán bộ hưu trí

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 2424/2018/TLST–HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2018, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 154/2019/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Võ Hồng T, sinh năm 1982.

Thường trú: K2/48, hẻm 531, đường B, khu phố 5, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Bà Phạm Thị M, sinh năm 1986.

Thường trú: K2/48, hẻm 531, đường B, khu phố 5, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Ông T có đơn xin xét xử vắng mặt, bà M vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn ông Võ Hồng T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Phạm Thị M kết hôn vào năm 2007 tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 55 ngày 24/5/2007.

Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu, sau đó từ năm 2013 thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do quan điểm của hai vợ chồng không đồng nhất, thường xuyên xảy ra cãi vã, không còn yêu thương, tôn trọng lẫn nhau. Từ năm 2014 đến nay, bà M đã bỏ nhà đi, không có tin tức gì. Ông T đã nhiều lần cố gắng tìm kiếm tin tức của bà M nhưng không có kết quả. Vì vậy, ông T đã làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với bà M và được giải quyết bằng Quyết định giải quyết việc dân sự số 19/2018/QĐDS-ST ngày 19 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố B. Nay ông T xác định tình cảm không còn nên xin ly hôn với bà Phạm Thị M.

Về con chung: Quá trình chung sống, ông và bà M có 01 con chung là cháu Võ Phạm Gia H, sinh ngày 05/3/2008. Khi ly hôn, do từ năm 2014 đến nay, bà M đưa cháu H cùng bỏ nhà đi, không có tin tức gì nên ông T xin tiếp tục giao con cho bà M nuôi dưỡng, tạm thời ông T không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Ông T khai ông và bà M không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Ông T khai ông và bà M không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

YÙ kieán cuûa Vieän kieåm saùt nhaân daân thành phố B:

Về việc kiểm sát chấp hành pháp luật tố tụng: Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự và thẩm quyền giải quyết, Tòa án đã xác định đúng theo quy định pháp luật. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục theo quy định pháp luật.

Về vieäc giải quyết tranh chaáp:

- Veà quan heä hoân nhaân: Căn cứ 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận cho ông Võ Hồng T được ly hôn với bà Phạm Thị M.

- Veà quan heä con chung: Quá trình chung sống, ông và bà M có 01 con chung là cháu Võ Phạm Gia H, sinh ngày 05/3/2008. Khi ly hôn, do từ năm 2014 đến nay, bà M đưa cháu H cùng bỏ nhà đi, không có tin tức gì nên tiếp tục giao con cho bà M nuôi dưỡng, tạm thời ông T không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Theo ông T khai, ông và bà M không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nhưng do Tòa án chưa ghi nhận được ý kiến của bà Phạm Thị M về tài sản chung và nợ chung nên sẽ tách ra giải quyết bằng một vụ án khác khi các đương sự có yêu cầu.

Về án phí: Ông Võ Hồng T phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

- Ông Võ Hồng T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Phạm Thị M; Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xác định quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp ly hôn”. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định ông Võ Hồng T là nguyên đơn còn bà Phạm Thị M là bị đơn trong vụ án.

- Theo bản sao y chứng thực sổ hộ khẩu và Quyết định giải quyết việc dân sự số 19/2018/QĐDS-ST ngày 19 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố B thì nơi cư trú cuối cùng của bà Phạm Thị M là K2/48, hẻm 531, đường B, khu phố 5, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Do đó, căn cứ các Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Ngày 20/5/2019, ông Võ Hồng T có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Tòa án xét xử vắng mặt ông T theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Tòa án nhân dân thành phố B niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập đương sự, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn là bà Phạm Thị M để làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, cũng như tham gia phiên tòa theo quy định của pháp luật nhưng bà M đều vắng mặt không có lý do. Vì vậy, theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bà M.

Về quan hệ hôn nhân: Ông T và bà M tự nguyện kết hôn vào năm 2007 tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 55 ngày 24/5/2007. Do đó, cần áp dụng các quy định tại Điều 9, Điều 11, Điều 12 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000, xác định đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu, sau đó từ năm 2013 thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do quan điểm của hai vợ chồng không đồng nhất, thường xuyên xảy ra cãi vã, không còn yêu thương, tôn trọng lẫn nhau. Từ năm 2014 đến nay, bà M đã bỏ nhà đi, không có tin tức gì. Ông T đã nhiều lần cố gắng tìm kiếm tin tức của bà M nhưng không có kết quả. Vì vậy, ông T đã làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với bà M và được giải quyết bằng Quyết định giải quyết việc dân sự số 19/2018/QĐDS-ST ngày 19 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố B. Nay ông T xác định tình cảm không còn nên xin ly hôn với bà Phạm Thị M. Xét yêu cầu ly hôn của ông T là có cơ sở theo quy định tại khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Vì vậy, chấp nhận cho ông Võ Hồng T được ly hôn với bà Phạm Thị M.

Về con chung: Quá trình chung sống, ông T và bà M có 01 con chung là cháu Võ Phạm Gia H, sinh ngày 05/3/2008. Theo xác nhận của Ủy ban nhân dân phường B ngày 29/3/2019 thì từ năm 2014 đến nay, bà M đưa cháu H cùng bỏ nhà đi, không có tin tức gì nên xét thấy cần tiếp tục giao con cho bà M nuôi dưỡng, tạm thời ông T không cấp dưỡng nuôi con. Ông T được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Theo ông T khai ông và bà M không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nhưng do Tòa án chưa ghi nhận được ý kiến của bà Phạm Thị M về tài sản chung và nợ chung nên sẽ tách ra giải quyết bằng một vụ án khác khi các đương sự có yêu cầu.

Về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông Võ Hồng T phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 9; Điều 11; Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;

Áp dụng Điều 19, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, khoản 1 Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Hồng T, ông Võ Hồng T được ly hôn với bà Phạm Thị M.

Về con chung: Ông T và bà M có 01 con chung là cháu Võ Phạm Gia H, sinh ngày 05/3/2008. Khi ly hôn, giao cháu H cho bà M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời ông T không phải cấp dưỡng nuôi con. Ông T được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Theo ông T khai ông và bà M không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nhưng do Tòa án chưa ghi nhận được ý kiến của bà Phạm Thị M về tài sản chung và nợ chung nên sẽ tách ra giải quyết bằng một vụ án khác khi các đương sự có yêu cầu.

Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Võ Hồng T phải nộp 300.000đ án phí, được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 009514 ngày 05/11/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B. Ông T đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Ông Võ Hồng T và bà Phạm Thị M có quyeàn khaùng caùo trong thời haïn 15 ngaøy keå töø ngaøy nhaän ñöôïc baûn aùn hoaëc được tống đạt hợp lệ bản án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ