vanban.org

Bản án 66/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An Tuyên án 25/07/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Duy T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Trần Duy T 06(Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 28/05/2018 đến ngày 06/06/2018. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Duy T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN THÀNH
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2018/HSST
Ngày 25 - 7 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH-TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Anh Ngọc.

Các hội thẩm nhân dân : Ông Nguyễn Bá Hùng – Bà Nguyễn Thị Hà

-Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Công Hưng – Thư ký tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Hồ Văn Nam – Kiểm sát viên

Trong ngày 25 /7/2018 tại Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An mở phiên tòa công khai để xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 68/2018/HSST ngày 02 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:

- Họ và tên:Trần Duy T(Tên gọi khác: không),Giới tính: nam. Sinh ngày 02/03/1976 tại xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Nơi ĐKHKTT và chổ ở hiện nay: xóm R, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 8/12; Quốc ti ̣ch : Viê ̣t Nam ; Dân tô ̣c : Kinh; Tôn giáo : không; Tiền án , tiền sự: không; Con ông: Trần Duy H(Chết); con bà : Nguyễn Thị V(Chết); Anh, chị, em ruô ̣t: Có 05 người, bị can là con thứ 04 trong gia đình; Vợ: Cao Thị V, sinh năm 1984; Con: có 02 người con, lớn nhất 9 tuổi, nhỏ nhất 6 tuổi; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/05/2018 đến ngày 06/06/2018. Bị cáo tại ngoại tại xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An.(Có mặt tại phiên tòa)

- Người bị hại: Ông Cao Đình D, sinh năm 1963. (Có mặt)

Trú tại xóm 11, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An

- Người làm chứng: Ông Trần Duy G, sinh năm 1974(Có mặt)

Trú tại:Trú tại xóm 11, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 6 giờ 15 phút ngày 28/05/2018, Trần Duy T điều khiển xe máy từ nhà mình đến nhà anh Trần Duy G tại xóm 11, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An để mua vật liệu xây dựng. Trước khi đi, Trần Duy T biết ông Cao Đình D là bố vợ đang làm thợ hồ tại nhà ở của anh G. Do Trần Duy T và ông Cao Đình D đã có mâu thuẫn từ trước nên khi đi T mang theo một con dao phay. Khi đi đến cổng nhà anh G, thấy ông D đang làm việc bên trong nhà thì T nói với ông D “Mi định khi mô đưa hai đứa con của tau về”, ông D trả lời lại “Mi nói chi rứa” rồi chạy đến nơi T đang đứng. Thấy vậy, Trần Duy T liền đi đến chiếc xe máy của mình lấy con dao phay chạy đến chém ông D, ông D dơ tay đỡ nên dao trúng sượt vào đầu. Bị T chém vào đầu, ông D cúi xuống lấy thanh sắt để chống trả lại thì bị Trần Duy T tiếp tục dùng dao đâm trúng vào phần bụng. Sau khi thấy ông D bị thương Trần Duy T bỏ chạy.

Sau khi nghe tiếng cãi nhau ngoài sân nhà mình, anh G chạy ra thì thấy ông D đang ngồi ở sân trên đầu và phía trước bụng bị chảy máu. Thấy vậy anh G dùng xe máy chở ông D đi cấp cứu và điều trị tại bệnh viện đa khoa P, huyện D, tỉnh Nghệ An. Còn Trần Duy T đến ban Công an xã T để đầu thú về hành vi của mình. Trên đường đi, T vứt con dao gây thương tích cho ông Cao Đình D ở hàng rào nhà anh Trịnh Xuân M ở xóm R, xã T, huyện Y. Ban Công an xã T đã đưa Trần Duy T đến nơi T vứt con dao để lấy con dao rồi đưa Trần Duy T về Ban Công an xã T để làm việc, và sau đó Công an xã T đã bàn giao Trần Duy T cho Công an huyện Yên Thành điều tra, xử lý theo thẩm quyền.

Ngày 31 tháng 5 năm 2018, Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Thành ra Quyết định trưng cầu giám định. Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 164/KLPY ngày 01/06/2018 của Trung tâm pháp y, sở y tế Nghệ An kết luận: “Một số vết thương phần mềm tại các vị trí: Đỉnh đầu bên phải; thái dương đỉnh phải và ở mũi ức không ảnh hưởng chức năng.

- Một vết xây xát da đường trắng giữa trên rốn không ảnh hưởng chức năng. Tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 03%(Ba phần trăm)”.

-Vật chứng thu giữ gồm: 01 con dao phay dài 43,2 cm, có phần cán dao làm bằng gỗ dài 13,7cm, đầu cán và cuối cán có hai chuôi bằng kim loại màu vàng. Đường kính 2cm. Phần cuối cán gắn với lưỡi dao dài 29,5 cm. Chỗ rộng nhất của lưỡi dao 3,8 cm. Phần lưỡi sắt với cán dao rộng 2 cm; phần sống dao 0,5 cm; mũi dao nhọn do Trần Duy T dùng chém ông Cao Đình D đã chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh nghệ An theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/7/2018 và phiếu nhập kho NK 61 ngày 03/7/2018 chờ xử lý.

- Về trách nhiệm dân sự: Ông Cao Đình D không yêu cầu Trần Duy T bồi thường thiệt hại.

Tại bản cáo trạng số: 69/VKS - HS, ngày 01 tháng 7 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An đã truy tố bị cáo Trần Duy T về tội Cố ý gây thương tích theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Đại diện viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, khoản 2 điều 65 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trần Duy T từ 06 tháng đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thử thách từ 12 đến 18 tháng.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 con dao phay mà bị cáo Trần Duy T dùng chém ông Cao Đình D.

* Về án phí: Áp dụng Điều 135; Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 21, Điều 23 của Nghị quyết số: 236/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Duy Tư phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, người bị hại không tranh luận đối đáp gì với bản luận tội của đại diện viện kiểm sát. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ tòa diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ buộc tội: Trần Duy T là con rể ông Cao Đình D, giữa con rể và bố vợ đã có mâu thuẫn với nhau từ trước. Khoảng 6 giờ 15 phút ngày 28/05/2018, Trần Duy T điều khiển xe máy đến nhà anh Trần Duy G, trú tại xóm 11, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An để mua vật liệu xây dựng. Biết ông D đang làm thợ hồ tại nhà ở của anh G, nên trước lúc đi Trần Duy T mang theo một con dao phay. Đi đến cổng nhà anh G, Trần Duy T thấy ông D đang làm việc phía trong nhà thì T đi đến nói với ông D “mi định khi mô đưa hai đứa con của tau về”, ông D trả lời lại “mi nói chi rứa” rồi chạy đến nơi T đang đứng. Thấy vậy, Trần Duy T liền đi đến chiếc xe máy của mình lấy con dao phay chạy đến chém ông D, ông D dơ tay đỡ nên dao chém trúng vào đầu. Bị T chém vào đầu, ông D cúi xuống lấy thanh sắt dưới đất để chống trả thì bị T đâm tiếp trúng vào phần bụng. Thấy vậy ông D bị thương chảy máu Trần Duy T bỏ chạy và sau đó đến công an xã T, huyện Y đầu thú. Sau khi bị chém ông Cao Đình D được anh G đưa đi cấp cứu và điều trị tại bệnh viện đa khoa P, huyện D, tỉnh Nghệ An.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 54/TTPY ngày 23/02/2018 của trung tâm pháp y tỉnh Nghệ An kết luận: “Một số vết thương phần mềm tại các vị trí: Sau ngoài vai phải; 1/3 trên sau ngoài cánh tay trái và ngang thắt lưng bên trái. Bị đánh vào vùng chẩm hiện tại không còn để lại vết tích, không để lại di chứng. Tổn hại sức khỏe do thương tích gây nên tại thời điểm giám định đối với ông Cao Đình D là 03% (ba phần trăm).

Trên cơ sở lời khai nhận của bị cáo, lời khai của người làm chứng, người bị hại, vật chứng thu giữ, các vết thương trên cơ thể của người bị hại và đơn đề nghị khởi tố vụ án hình sự của người bị hại. Cơ quan điều tra, điều tra viên thấy rằng Trần Duy T dùng dao phay là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho ông Cao Đình D đã phạm tội Cố ý gây thương tích, theo qui định tại Điều 134 của BLHS. Nên cơ quan điều tra, điều tra viên đã tiến hành các hoạt động theo qui định của pháp luật tố tụng hình sự để xử lý đối với Trần Duy T như ra các quyết định, áp dụng biện pháp ngăn chặn, lấy lời khai của những người làm chứng, hỏi cung bị can, quyết định trưng cầu giám định thương tích đối với những vết thương trên cơ thể của người bị hại để xử lý Trần Duy T theo quy định của pháp luật. Căn cứ vào kết quả điều tra và các tài liệu khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành ban hành Cáo trạng truy tố bị cáo Trần Duy T về tội Cố ý gây thương tích theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự là đúng người đúng tội, đúng qui định của pháp luật.

Đây là một vụ án ít nghiêm trọng, hành vi Trần Duy T dùng dao chém vào người ông Cao Đình D gây tổn hại sức khỏe 3% là rất nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự liều lĩnh, xem thường pháp luật, xâm phạm đến sức khỏe của ông T được pháp luật bảo vệ. Giữa bị cáo và người bị hại có mối quan hệ là con rể, bố vợ với nhau, ngoài việc vi phạm pháp luật thì bị cáo còn vi phạm về đạo đức xã hội, người mà bị cáo chém không ai khác mà là bố vợ của bị cáo. Quá trình thẩm vấn công khai tại phiên tòa thấy rằng bị cáo không thể hiện sự ăn năn hối lỗi sau khi phạm tội. Xét tính chất vụ án, hành vi gây thương tích do bị cáo thực hiện đối với bị hại thấy rằng cần xử lý nghiêm minh đối với bị cáo, việc cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian là cần thiết, qua đó để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Lẽ ra phải xử phạt bị cáo với mức án 9 tháng tù, nhưng xét thấy rằng quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã đến công an đầu thú. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ qui định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên xét thấy cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: 01 con dao phay Trần Duy T dùng chém ông Cao Đình D là vật chứng của vụ án, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Cao Đình D bị Trần Duy T gây thương tích có thiệt hại về sức khỏe, vật chất và tinh thần, nhưng ông D không yêu cầu bị cáo bồi thường nên miễn xét.

Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố: Bị cáo Trần Duy T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 134 điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Duy T 06(Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 28/05/2018 đến ngày 06/06/2018.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 con dao phay dài 43,2 cm, có phần cán dao làm bằng gỗ dài 13,7 cm, đầu cán và cuối cán có hai chuôi bằng kim loại màu vàng. Đường kính 2cm. Phần cuối cán gắn với lưỡi dao dài 29,5 cm. Chỗ rộng nhất của lưỡi dao 3,8 cm. Phần lưỡi sắt với cán dao rộng 2 cm; phần sống dao 0,5 cm; mũi dao nhọn đã chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh nghệ An theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/7/2018 và phiếu nhập kho NK:61 ngày 03/7/2018.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 21, Điều 23 của Nghị quyết số: 236/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trần Duy T phải nộp 200.000đ(Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án lên tòa án cấp trên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ