- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Phước B - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phước B (B Đầu Đỏ) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2018/HS-ST Ngày: 17-9-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Văn Trình
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Hữu Tân
Bà Nguyễn Thị Loan Phụng
Thư ký phiên toà: Ông Lê Hoàng Út - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre tham gia phiên toà: Ông Văn Kim Thái Thông - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 72/2018/TLST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 69/2018/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:
NGUYỄN PHƯỚC B (B Đầu Đỏ), sinh năm: 1988 tại tỉnh Bến Tre; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 111/18, đường N, khu phố H, Phường B, thành phố BT, tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: Số 270A, khu phố H, phường P, thành phố BT, tỉnh Bến Tre; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H và bà Đặng Thị Ngọc N; Vợ, con: chưa có; Tiền án: Tại bản án hình sự phúc thẩm số 109/2009/HSPT ngày 19/8/2009 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre đã xử phạt 9 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 (tài sản chiếm đoạt có giá trị trên 2.000.000 đồng), Tại bản án hình sự sơ thẩm số 51/2012/HSST ngày 10/8/2012 của Tòa án nhân dân thành phố BT, tỉnh Bến Tre đã xử phạt 05 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; Tiền sự: không; Bị cáo tại ngoại. (Có mặt)
- Bị hại:
Chế Nhựt L, sinh năm: 1994;
Nơi cư trú: Số 138B, ấp H, xã NT, thành phố BT, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt)
- Người làm chứng:
Trần Phương T, sinh năm: 1979;
Nơi cư trú: Số 18/45/5A, đường H, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Phước B đã 02 lần bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích. Vào khoảng 18 giờ ngày 04/01/2018, Nguyễn Phước B điều khiển xe mô tô biển số 71B3-255.86 chạy trên đường N theo hướng từ vòng xoay P về ngã tư T. Khi đến khu vực trước cổng nhà trọ 215 ở số 21F1, khu phố B, phường P, thành phố BT, tỉnh Bến Tre, B phát hiện thấy cây thang xếp bằng kim loại màu trắng của anh Chế Nhựt L để trên yên xe mô tô dựng bên đường nhưng không ai trông coi nên nảy sinh ý định chiếm đoạt bán lấy tiền tiêu xài. Để thực hiện ý định, B quay xe lại lấy cây thang của anh L để qua xe mô tô biển số 71B3-255.86 rồi chạy về nhà. Nhưng khi B chạy về đến khu vực nhà máy thuốc lá tỉnh Bến Tre thì bị Công an phường P, thành phố BT, tỉnh Bến Tre phát hiện mời về Công an phường P làm việc. Tại đây, B khai nhận vừa lấy trộm cây thang của anh L như nêu trên.
Vật chứng thu giữ:
- 01cây thang xếp bằng kim loại màu trắng dài khoảng 3,5m;
- 01xe mô tô biển số 71B3-255.86.
Theo Bản Kết luận định giá trị tài sản số 86/KL-HDĐG ngày 24/01/2018 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Bến Tre kết luận: 01 cây thang xếp bằng kim loại, màu trắng có chiều dài khoảng 3,5 mét. Trị giá tài sản vào ngày 04/01/2018 là 950.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 77/CT-VKSTPBT ngày 04 tháng 9 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã truy tố bị cáo Nguyễn Phước B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị: áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Phước B từ 6 đến 9 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre đã trả lại cho bị hại tài sản bị chiếm đoạt và bị hại không yêu cầu gì khác; Giao cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre 01 xe mô tô biển số 71B3 – 255.86 để tiếp tục xác minh làm rõ nguồn gốc và xử lý theo thẩm quyền. Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định.
Bị cáo Nguyễn Phước B có lời khai tại phiên tòa là vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 04/01/2018, trước cổng nhà trọ 215 ở số 21F1, khu phố N, phường P, thành phố BT, tỉnh Bến Tre, bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của bị hại Chế Nhựt L 01 cây thang xếp bằng kim loại màu trắng, dài 3,5 mét. Sau đó, hành vi của bị cáo bị phát hiện và thu giữ tang vật. Bị cáo thừa nhận hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật về đề nghị giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên sơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an thành phố Bến Tre, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo Nguyễn Phước B tại phiên tòa là vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 04/01/2018, trước cổng nhà trọ 215 ở số 21F1, khu phố B, phường P, thành phố BT, tỉnh Bến Tre, bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của bị hại Chế Nhựt L 01 cây thang xếp bằng kim loại màu trắng, dài 3,5 mét. Sau đó, hành vi của bị cáo bị phát hiện và thu giữ tang vật. Đối chiếu với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu khác thu thập được trong quá trình điều tra là phù hợp nhau. Giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt của bị hại được xác định qua kết quả định giá của Hội đồng định giá tài sản là 950.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý với giá trị, không khiếu nại gì, Hội đồng xét xử căn cứ giá trị Hội đồng định giá xác định để xét xử đối với bị cáo. Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận biết hành vi bị cáo thực hiện là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện và hậu quả đã xảy ra. Mặc dù giá trị tài sản bị chiếm đoạt có giá trị chưa đến 2.000.000 đồng, nhưng bị cáo đã 02 lần bị Tòa án kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Vì vậy, Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Phước B phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của cá nhân, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn bị cáo thực hiện tội phạm, gây tâm lý lo sợ cho quần chúng nhân dân trong lao động, sinh hoạt hằng ngày.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy rằng: Bị cáo có nhân xấu, đã nhiều lần bị Tòa án kết án về tội “Cướp giật tài sản” và “Trộm cắp tài sản”, trong đó 02 lần bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích. Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Xét tình tiết giảm nhẹ bị cáo được hưởng như phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, thành khẩn khai báo, bị hại có đơn yêu cầu xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ và hậu quả do hành vi bị cáo gây ra, xét thấy việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là điều cần thiết nhằm cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại Chế Nhựt L đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là 01 cây thang xếp bằng kim loại màu trắng, dài 3,5 mét và không yêu cầu gì khác là tự nguyện nên được ghi nhận.
Về xử lý vật chứng:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre đã trả lại cho bị hại Chế Nhựt L 01 cây thang xếp bằng kim loại màu trắng, dài 3,5 mét. Xét thấy, đây là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị hại L nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp nên ghi nhận.
Đối với 01 xe mô tô biển số 71B3-255.86 hiện không rõ nguồn gốc nên giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre tiếp tục xác minh làm rõ nguồn gốc và xử lý theo thẩm quyền.
Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh đối với bị cáo Nguyễn Phước B “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với quy định pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Phước B phải nộp theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phước B (B Đầu Đỏ) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phước B (B Đầu Đỏ) 9 (chín) tháng tù;
Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
2. Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự:
Ghi nhận bị hại Chế Nhựt L đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là 01 (một) cây thang xếp bằng kim loại màu trắng, dài 3,5 mét và không yêu cầu gì khác.
3. Áp dụng 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
- Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre đã trả lại cho bị hại Chế Nhựt L 01 (một) cây thang xếp bằng kim loại màu trắng, dài 3,5 mét.
- Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre 01 (một) xe mô tô biển số 71B3-255.86, nhãn hiệu SYM có số máy: VMEM3G004954, số khung: RLGMA11AD4D004954 để tiếp tục xác minh làm rõ nguồn gốc và xử lý theo thẩm quyền.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/9/2018, hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre đang quản lý)
4. Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Phước B phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre (1b); - VKSND tỉnh Bến Tre (1b); - VKSND thành phố Bến Tre (1b); - Cơ quan điều tra CATP Bến Tre (1b); - Cơ quan THAHS CATP Bến Tre (1b); - Chi cục THA dân sự thành phố Bến Tre (1b); - Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre (1b); - UBND Phường B, TP BT, tỉnh Bến Tre (1b); - UBND phường P, TP BT, tỉnh Bến Tre (1b) - Bị cáo, bị hại (2b); - Bộ phận thi hành án hình sự (2b); - Lưu (văn phòng, hồ sơ vụ án) (2b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Ngô Văn Trình |