- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lưu Mai T - Trương Ngọc L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lƣu Mai T đối với bị đơn anh Trƣơng Ngọc L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| THỊ XÃ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 66/2018/HNGĐ-ST Ngày: 13-6-2018 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Nguyễn Ngọc Quang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Ngọc.
2. Bà Nguyễn Thụy Vân Hà.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai - Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Bƣơng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 257/2018/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2018 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 70/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2018, giữa các đƣơng sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lƣu Mai T, sinh năm 1988; thƣờng trú: Số 152/3C, khu phố B, phƣờng A, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng. (Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)
2. Bị đơn: Anh Trƣơng Ngọc L, sinh năm 1980; thƣờng trú: Số 257/9B, khu phố C, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện đề ngày 12/3/2018 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Lƣu Mai T đã trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lƣu Mai T và anh Trƣơng Ngọc L tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cƣới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng A, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng theo Giấy chứng nhận kết hôn số 208, quyển số 01, ngày 11/11/2011.
Sau khi kết hôn, chị T và anh L sinh sống tại số 152/3C, khu phố B, phƣờng A, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng. Đến tháng 8/2012, chị T và anh L chuyển đến sinh sống tại số 257/9B, khu phố C, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Đến tháng 10/2013, do vợ chồng mâu thuẫn nên chị T cùng với con về sinh sống ở số 152/3C, khu phố B, phƣờng A, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng và anh chị sống ly thân cho đến nay.
Trong quá trình chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc thời gian đầu, đến tháng 8/2012 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, dẫn đến sống ly thân. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh L thay đổi tính tình, hay tụ tập bạn bè nhậu nhẹt, không lo làm ăn, không quan tâm chăm sóc đến vợ con, mặc dù chị T đã nhiều lần khuyên nhủ nhƣng anh L vẫn không thay đổi nên chị đem con về nhà cha mẹ sinh sống cho đến nay. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc nên chị yêu cầu đƣợc ly hôn với anh L.
Về con chung: Quá trình chung sống, chị T và anh L có 01 con chung tên Trƣơng Ngọc Cẩm T, sinh ngày 28/4/2012, hiện nay cháu T đang sống với chị T. Chị T yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng cháu T và tự nguyện không yêu cầu anh L thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nghĩa vụ chung và nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Quá trình tố tụng, bị đơn anh Trƣơng Ngọc L đã đƣợc Tòa án thông báo thụ lý vụ án, triệu tập tham gia tự khai vào ngày 09/4/2018; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 07/5/2018; tham gia phiên tòa vào các ngày 25/5/2018 và ngày 13/6/2018, nhƣng anh L vắng mặt không có lý do.
- Biên bản xác minh của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An ngày 03/5/2018 tại UBND phƣờng T, thị xã D thể hiện: Hội Liên hiệp phụ nữ phƣờng T không tiếp nhận thông tin từ cơ sở phản ánh về mâu thuẫn vợ chồng và về vấn đề chăm sóc nuôi dạy con chung giữa chị Lƣu Mai T và anh Trƣơng Ngọc L, đồng thời không tiếp nhận đơn yêu cầu hòa giải về quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh L, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo thẩm quyền.
- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn đƣợc triệu tập hợp lệ 02 lần nhƣng vắng mặt không tham gia phiên tòa, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định. Về nội dung: Về quan hệ hôn nhân, chị T và anh L có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng đã mâu thuẫn trong một thời gian dài, không thể hàn gắn và đã sống ly thân từ tháng 10/2013 cho đến nay. Do đó, chị T khởi kiện yêu cầu đƣợc ly hôn với anh L là có căn cứ. Về con chung, chị T có nguyện vọng đƣợc trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh L thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con. Yêu cầu này của chị T là phù hợp, thực tế từ tháng 10/2013 cho đến nay anh L cũng không quan tâm chăm sóc, nuôi dƣỡng con chung và cháu Trƣơng Ngọc Cẩm T đang do chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng. Về tài sản chung và nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về điều kiện khởi kiện: Chị Lƣu Mai T khởi kiện anh Trƣơng Ngọc L về việc yêu cầu đƣợc ly hôn và nuôi con chung nên đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Anh L sinh sống và thƣờng trú tại số 257/9B, khu phố C, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Lƣu Mai T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn anh Trƣơng Ngọc L đƣợc triệu tập hợp lệ 02 lần nhƣng vắng mặt không tham gia phiên tòa, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lƣu Mai T và anh Trƣơng Ngọc L là vợ chồng, có tổ chức lễ cƣới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng A, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng theo Giấy chứng nhận kết hôn số 208, quyển số 01, ngày 11/11/2011 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.
Chị T xác định trong quá trình chung sống với anh L xảy ra nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống đƣợc với nhau. Từ tháng 10/2013, chị T cùng với con về sinh sống ở số 152/3C, khu phố B, phƣờng A, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng và anh chị sống ly thân cho đến nay. Xét mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc, để đạt đƣợc mục đích đó vợ chồng phải tôn trọng, thƣơng yêu, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Do tình trạng mâu thuẫn kéo dài từ năm 2013 đến nay nên chị T xác định không thể tiếp tục quan hệ hôn nhân và không còn tình cảm với anh L. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án và nhiều lần triệu tập đến làm việc nhƣng anh L đều vắng mặt không rõ lý do, không đến tham gia phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Đồng thời, anh L cũng không có văn bản nào thể hiện thiện chí đƣa ra phƣơng pháp hàn gắn mối quan hệ giữa anh và chị T nên có cơ sở xác định cuộc sống hôn nhân của chị T và anh L phát sinh nhiều mâu thuẫn, không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Nay chị T yêu cầu đƣợc ly hôn với anh L là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên có căn cứ chấp nhận.
Về con chung: Chị Lƣu Mai T và anh Trƣơng Ngọc L có một con chung tên Trƣơng Ngọc Cẩm T, sinh ngày 28/4/2012. Chị T yêu cầu sau khi ly hôn đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung và không yêu cầu anh L cấp dƣỡng nuôi con. Anh L không đến Tòa án làm việc, không có ý kiến đối với yêu cầu nuôi con của chị T. Xét chị T, anh L đã sống ly thân từ tháng 10/2013, từ đó đến nay cháu T sống cùng với chị T, do đó yêu cầu của chị T đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng cháu T là phù hợp, có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung, nợ chung: Chị Lƣu Mai T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về án phí ly hôn: Chị Lƣu Mai T phải chịu án phí theo quy định của của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lƣu Mai T đối với bị đơn anh Trƣơng Ngọc L.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lƣu Mai T đƣợc ly hôn với anh Trƣơng Ngọc L (Giấy chứng nhận kết hôn số 208, quyển số 01 ngày 11/11/2011 do Ủy ban nhân dân phƣờng A, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng cấp).
- Về con chung: Giao con chung tên Trƣơng Ngọc Cẩm T, sinh ngày 28/4/2012 cho chị Lƣu Mai T trực tiếp nuôi dƣỡng, chăm sóc. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Lƣu Mai T không yêu cầu anh Trƣơng Ngọc L cấp dƣỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, chị Lƣu Mai T và anh Trƣơng Ngọc L có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục đối với con chung chƣa thành niên; không ai đƣợc lạm dụng việc thăm nom cản trở các quyền này. Vì lợi ích hợp pháp của con chung, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dƣỡng.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung, nợ chung về tài sản: Chị Lƣu Mai T không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
2. Về án phí ly hôn: Chị Lƣu Mai T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), đƣợc khấu trừ toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0019054 ngày 20/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết hợp lệ./.
| Nơi nhận: - Đƣơng sự; - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thị xã Dĩ An; - Chi cục THADS thị xã Dĩ An; - UBND phƣờng A, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng; - Lƣu: VT, HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Nguyễn Ngọc Quang |