vanban.org

Bản án 66/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận chị Trần Thị Mỹ L và anh Nguyễn Văn K là vợ chồng.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Chị L khai không có nên không xem xét, giải quyết. Về án phí: Chị L phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0002101 ngày 04/01/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận chị Trần Thị Mỹ L và anh Nguyễn Văn K là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 66/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 09/3/2018
V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Hậu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Ngọc Bờ.

2. Ông Nguyễn Văn Chào.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Quang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện châu Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Không tham gia.

Ngày 09 tháng 3 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 12/2018/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Mỹ L, sinh năm 1994; nơi cư trú: Tổ 01, ấp HM, xã PH, huyện PT, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1989; nơi cư trú: Tổ 01, ấp BM, xã BM, huyện CP, tỉnh An Giang.

(Chị L có mặt, anh K vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn chị Trần Thị Mỹ L trình bày ý kiến:

- Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn K tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2012, nhưng không có đăng ký kết hôn, quá trình chung sống lúc đầu hạnh phúc, nhưng thời gian gần đây phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân do anh K thường hay ghen tuông, bạo hành đối với chị, đôi bên thường hay cải vã và bất đồng quan điểm sống. Do vậy kể từ tháng 11 năm 2017 cho đến nay chị và anh K không còn sống chung nữa. Nay nhận thấy tình cảm không còn nên chị L yêu cầu xin ly hôn với anh K.

- Về con chung, tài sản chung và về nợ chung: Chị L khai không có.

* Bị đơn anh Nguyễn Văn K vắng mặt tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp:

Căn cứ vào đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ kèm theo thì vụ án thuộc quan hệ về tranh chấp hôn nhân và gia đình, cụ thể chị Trần Thị Mỹ L yêu cầu xin ly hôn với anh Nguyễn Văn K, về con chung , tài sản chung và nợ chung chị L khai không có, do vậy Tòa án thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án:

Do đây là loại kiện tranh chấp hôn nhân và gia đình được quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện mà cụ thể là Tòa án nhân dân huyện Châu Phú do bị đơn có nơi cư trú tại địa bàn huyện Châu Phú theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về trình tự và thủ tục khởi kiện:

Xét đây là vụ án không bắt buộc phải thông qua hòa giải cơ sở, nên chị L làm đơn khởi kiện trực tiếp ra Tòa án vẫn hợp lệ.

Về thủ tục tố tụng:

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho các đương sự theo đúng quy định, tuy nhiên do anh K cố tình vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không lý do, nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh K là đúng theo quy định tại Điều 227 và Điều 233 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Giữa chị Trần Thị Mỹ L và anh Nguyễn Văn K được xác lập trên cơ sở tự nguyện, nhưng không có đăng ký kết hôn, nên việc kết hôn giữa chị Trần Thị Mỹ L và anh Nguyễn Văn K không có giá trị pháp lý, không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng, do vậy việc chị L xin ly hôn với anh K, nhưng vẫn không được xem xét mà căn cứ vào khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14 và Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình; căn cứ vào khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 không công nhận chị Trần Thị Mỹ L và anh Nguyễn Văn K là vợ chồng.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Chị L khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị L là người khởi kiện xin ly hôn với anh K nhưng Tòa án không công nhận chị L và anh K là vợ chồng, nên chị L phải chịu 300.000đ tiền án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; số tiền án phí hôn nhân sơ thẩm chị L phải chịu 300.000đ nói trên được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0002101 ngày 04/01/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, chị L đã nộp đủ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 233, Điều 235 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; căn cứ vào khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14 và Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình; căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; căn cứ vào khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016;

- Về hôn nhân: Không công nhận chị Trần Thị Mỹ L và anh Nguyễn Văn K là vợ chồng.

- Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Chị L khai không có nên không xem xét, giải quyết.

- Về án phí: Chị L phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0002101 ngày 04/01/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, chị L đã nộp đủ.

- Về quyền kháng cáo: Chị L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh K có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ