vanban.org

Bản án 66/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Buôc chị Bùi Nữ Ái Th phải hoàn trả cho chị Nguyễn Thị Th 30.

Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả được tính bằng 1,245% tháng (0,83 x150% tháng). Án phí dân sự sơ thẩm chị Bùi Nữ Ái Th phải chịu 1.674.000đ (Một triệu, sáu trăm, bảy mươi tư ngàn đồng). Hoàn trả 700.000đ (Bảy trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí cho chị Nguyễn Thị Th theo biên lai thu tiền số 02949 … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa chị Nguyễn Thị Th và Bùi Nữ Ái Th"
  • Tòa quyết gì? Buôc chị Bùi Nữ Ái Th phải hoàn trả cho chị Nguyễn Thị Th 30.
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THỊ XÃ AN NHƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH ĐỊNH
Số: 66/2018/DS-ST
Ngày 23/8/2018
V/v “Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Từ Văn Thiết

- Các Hội thẩm nhân dân:

1- Ông Lê Minh Chiến

2- Bà Nguyễn Thị Thảo

- Thư ký phiên tòa: V Na Th ng – Thư ký Toà án nhân dân th

An Nhơn

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân th An Nhơn tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Liê – Kiểm Sát viên

Ngày 23 tháng 8 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 06/2017/TLST-DS ngày 23 tháng 10 năm 2017 về việc “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:31/2018/QĐXXST-DS ngày19 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1967

Địa chỉ:Thôn Háo Đ, xã Nhơn A,TX An Nhơn, Bình Định.

* Bị đơn: Chị Bùi Nữ Ái Th, sinh năm 1984

Địa chỉ: Thu n T, xã Nhơn A, TX An Nhơn, Bình Định.

(Ch Th có mặt, ch Ái Th vắng mặt)

NÔI DUNG V ÁN

* Tại đơn h i iện ngày 20 tháng 9 năm 2017 iên n t hai , iên n ghi lời hai ngày 3 tháng 11 năm 2017 và các iên n ti p theo Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Th trình bày:

Ngày 10/1/2016 Nguyễn Thị Mỹ H (cháu gọi chị bằng mợ) có dẫn chị Bùi Nữ Ái Th ở cùng xã đến nhà chị hỏi mượn số tiền 30.000.000đ. Thời gian vay 3 tháng. Lãi suất 6% tháng (600.000đ/10.000.000đ). Sau khi vay tiền, chị Ái Th đã trả được 3 tháng tiền lãi tổng cộng là 5.400.000đ. Đến hạn do không có khả năng trả nợ gốc nên chị Ái Th xin chị cho viết lại giấy nợ không thỏa thu n thời gian vay, lãi suất cũng 6% tháng. Theo giấy nợ nầy chị Ái Th đã trả cho chị được 8 tháng tiền lãi tổng cộng là 14.400.000đ. Đến ngày 01/01/2017 thì chị Ái Th không trả tiền lãi và cũng không trả được vốn vay. Chị đã nhiều lần gọi điện bảo Ái Th trả nợ nhưng Ái Th không thực hiện. Cho đến ngày 14/5/2017 chị chấp nh n cho Ái Th mấy tháng tiền lãi còn nợ trước đó, Ái Th viết lại giấy nợ với số tiền vốn gốc 30.000.000đ và hẹn ngày trả nợ là 14/6/2017 nhưng hết thời hạn nầy Ái Th cũng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Chị đòi nợ rất nhiều lần nhưng Ái Th luôn tìm cách né tránh. Ái Th trả tiền lãi cho chị thông qua Nguyễn Thị Mỹ H, chị đã nh n tổng cộng là 11 tháng tính đến hết tháng 12/2016. Theo Ái Th trình bày đã đưa tiền lãi cho H để trả cho chị đến hết tháng 2/2017 như v y 2 tháng tiền lãi này còn ở H chị không biết. Tháng 6/2017 cháu H bị vỡ nợ nên trốn khỏi địa phương, hiện tại bạn bè, hàng xóm không ai liên lạc được ngoại trừ gia đình người thân của H.

Chị Ái Th vay tiền của chị là để đi học chuyên môn, nghiệp vụ không liên quan gì tới anh Lê Kim L chồng của chị Th.

Nay chị yêu cầu Tòa án buộc một mình chị Ái Th phải trả lại cho chị 30.000.000đ tiền vốn gốc một lần trong thời gian ngắn nhất, không tính thêm tiền lãi ch m trả. Nếu Ái Th không đồng ý chị yêu cầu phải tính tiền lãi theo thỏa thu n từ ngày 14/06/2017 cho đến nay.

* Tại iên n ghi lời hai ngày 14/5/2018 ị đơn Bùi Nữ Ái Th trình bày:

Thông qua chị Nguyễn Thị H cháu gọi chị Nguyễn Thị Th bằng mợ ngày 10/01/2016 chị có vay chị Th 30.000.000đ, lãi suất 600.000đ trên 10.000.000đ. Từ tháng 01/2016 đến tháng 2/2017 chị đã trả tiền lãi cho chị Th đầy đủ tổng cộng là 13 kỳ x 1.800.000đ thành tiền 23.400.000đ.

Tất cả 3 giấy nợ mà chị Th đã cung cấp đều do chi viết và ký tên nhưng đều thể hiện một khoản nợ gốc là 30.000.000đ. Chị viết lại giấy nợ là do chị Th yêu cầu.

Chị xác định còn nợ chị Th số tiền vốn gốc là 30.000.000đ Hiện nay hoàn cảnh gia đình chị đang gặp khó khăn nên xin trả dần cho chị Th mỗi tháng 500.000đ cho đến khi hết nợ và xin chị Th không tính thêm tiền lãi nữa.

* hát i u của Viện i m sát tại phiên toà:

- V tố t ng:

Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà và của những người tham gia tố tụng đ ng theo quy định của Bộ lu t tố tụng Dân sự. Thời gian chuẩn bị xét xử có kéo dài.

- V nội dung:

Buộc bị đơn phải hoàn trả cho chị Th 30.000.000đ tiền vốn vay cùng tiền lãi.

Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp lu t.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nh n định:

V tố t ng: Bị đơn đã được tòa án triệu t p hợp lệ nhưng không đến tòa.

Theo Điều 174, Điều 207 và Điều 227 Bộ lu t tố tụng dân sự Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn .

V nội dung

Theo Điều 468 Bộ lu t dân sự năm 2015 thì lãi suất do các bên thỏa thu n nhưng không được vượt quá 20%/năm (1,66%/tháng) Trong trường hợp lãi suất theo thỏa thu n vượt quá mức lãi suất giới hạn được quy định thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

Tháng 01/2016 giữa chị Bùi Nữ Ái Th và chị Nguyễn Thị Th có thỏa thu n tiền vay với mức lãi suất 600.000đ tháng trên 10.000.000đ, tức 6% tháng, bằng 72% năm. Thời gian vay 3 tháng và đã thanh toán 5.400.000đ tiền lãi, do không trả được vốn vay nên ngày 10/4/2016 chị Ái Th viết lại giấy nợ với số tiền 30.000.000đ, vay không thời hạn, lãi suất cũng 6% tháng chị Ái Th đã thanh toán 8 tháng tiền lãi tổng cộng là 14.400.000đ, số tiền lãi còn nợ những tháng đầu năm 2017 chị Th không yêu cầu thanh toán và ngày 14/5/2017 chị Ái Th đã viết lại giấy nợ lần ba với số tiền là 30.000.000đ và đây là chứng cứ để chị Th khởi kiện yêu cầu chị Ái Th trả nợ.

Đối chiếu với pháp lu t hiện hành với mức lãi suất mà chị Ái Th và chị Th đã thỏa thu n là quá cao so với lãi suất giới hạn là 1,66% tháng như v y 4,34% lãi suất hàng tháng vượt quá nầy không có hiệu lực pháp lu t. Tuy nhiên từ ngày vay tiền đến nay chị Ái Th không hề có đơn khởi kiện và không có yêu cầu Tòa án tính toán lại tiền lãi đã thanh toán cho hai giấy mượn tiền trước đó nên Tòa không xét. Khi chị Ái Th có dơn khởi kiện Tòa án sẽ thụ lý giải quyết thành vụ kiện riêng.

Theo giấy mượn tiền viết ngày 14/5/2017 thì số tiền vốn vay là 30.000.000đ, thời gian vay 1 tháng và không ghi rõ lãi suất tiền vay. Theo đơn khởi kiện và biên bản tự khai 3/11/2017 chị Th yêu cầu chị Ái Th phải trả lại cho chị 30.000.000đ vốn vay một lần, chị sẽ không tính tiền lãi. Nếu Ái Th xin trả dần thì phải tính thêm tiền lãi theo như thỏa thu n trước đó.Tại biên bản ghi lời khai ngày 14/5/2018 chị Ái Th xác nh n hiện nay còn nợ chị Th 30.000.000đ vốn vay và xin trả dần cho chị Th mỗi tháng là 500.000đ cho đến khi hết nợ và xin không tính thêm tiền lãi nữa nhưng kể từ ngày tòa án thụ lý vụ án cho đến nay chị Ái Th chưa một lần đến Tòa án theo giấy triệu t p cũng như thông báo tiếp c n, công khai chứng cứ và hòa giải của Tòa án. Chứng tỏ rằng chị Ái Th không muốn hòa giải và không có thiện chí trả nợ. Yêu cầu của chị Th buộc chị Ái Th phải trả 30.000.000đ vốn vay và tính thêm tiền lãi từ tháng 6/2017 cho đến khi trả xong nợ là có căn cứ. Song Tòa án không chấp nh n mức lãi suất mà hai bên đã thỏa thu n trước đó theo đề nghị của chị Th vì không phù hợp với pháp lu t. Áp dụng khoản 2 Điều 468 Bộ lu t dân sự thì trong trường hợp không xác định rõ lãi suất và tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định là 50% lãi suất giới hạn theo quy định của Bộ lu t dân sự. Như v y mức lãi suất được tính là 0,83% tháng (10% năm). Và số tiền lãi mà chị Ái Th phải trả cho chị Th từ tháng 6/2017 đến tháng 7/2018 là 14 tháng, bằng 3.486.000đ (30.000.000đ x 0,83% tháng x 14 tháng) cùng với tiền vốn vay là 30.000.000đ.

Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả được tính bằng 1,245% tháng (0,83 x150% tháng) theo điểm b, khoản 5, Điều 466 Bộ lu t dân sự.

Bị đơn phải chịu 1.674.300đ tiền án phí dân sự sơ thẩm theo Nghị quyết 326/20016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của U ban thường vụ Quốc hội.

(30.000.000đ + 3.486.000đ) x 5% = 1.674.000đ

Vì những lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ các Điều 26, 35, 174, 207, 266 và 273 Bộ lu t tố tụng dân sự năm 2015.

- Áp dụng các Điều 463, 466 và 468 Bộ lu t dân sự năm 2015.

Tuyên xử:

1. Buôc chị Bùi Nữ Ái Th phải hoàn trả cho chị Nguyễn Thị Th 30.000.000đ tiền vốn vay và 3.486.000đ tiền lãi.

Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả được tính bằng 1,245% tháng (0,83 x150% tháng).

2. Án phí dân sự sơ thẩm chị Bùi Nữ Ái Th phải chịu 1.674.000đ (Một triệu, sáu trăm, bảy mươi tư ngàn đồng). Hoàn trả 700.000đ (Bảy trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí cho chị Nguyễn Thị Th theo biên lai thu tiền số 02949 ngày 23/10/2017 của cơ quan thi hành án dân sự thị xã An Nhơn.

3. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời gian 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Người vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nh n được bản án hoặc được tống đạt bản án hợp lệ.

“Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy đ nh tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc b cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy đ nh tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”

TM Hội ng x t xử

Thẩ phán - Chủ tọa phiên tòa

Nơi nh n

- TAND tỉnh Bình Định

- VKSND thị xã An Nhơn

- THADS thị xã An Nhơn

- Các đương sự

Từ Văn Thiết

Cỡ chữ