- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo TTLG phạm tôi mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo TTLG phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HT TỈNH TN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2017/HSST Ngày 07 tháng 12 năm 2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HT, TỈNH TN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà DƯƠNG THÚY HẰNG
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông ĐỖ THÀNH NGỌC
2/ Ông TRẦN VĂN THẠCH
- Thư ký phiên tòa: Ông HOÀNG KIM ANH - Thư ký Tòa án nhân dân huyện HT, tỉnh TN.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HT, tỉnh TN tham gia phiên tòa: Ông HỒ CHÍ DŨNG - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện HT, tỉnh TN, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 62/2017/HSST ngày 24 tháng 11 năm 2017 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2017/HSST-QĐ ngày 27 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo:
Họ và tên: TTLG (tên gọi khác: sc), sinh ngày 20 tháng 11 năm 1984, tại TN; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp HĐ, xã HT, huyện HT, tỉnh TN; nơi cư trú hiện nay: ấp HĐ, xã HT, huyện HT, tỉnh TN; số chứng minh nhân dân số: 072184000461; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: 06/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Cao Đài; con ông TVC, sinh năm 1940 (chết) và bà PTS, sinh năm 1943; có chồng NHD, sinh năm 1979 và 01 người con sinh năm 2005; tiền sự: không có, tiền án: không có; bị bắt tạm giữ từ ngày 14/9/2017 đến ngày 23/9/2017, sau đó trả tự do áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 15 giờ 30 phút ngày 13/9/2017, tại hẻm số 95, thuộc ấp Hiệp Hòa, xã HT, huyện HT, tỉnh TN. Công an tỉnh TN bắt quả tang TTLG đang bán trái phép 01 gói chất ma túy cho NQĐ, sinh năm 1992, ngụ khu phố A, phường A, Thành phố TN, tỉnh TN và LVA, sinh năm 1991, ngụ ấp V, xã AT, huyện BC, tỉnh TN với giá 300.000 đồng. Thu giữ trên người D 01 gói giấy bạc, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng; thu trên người của G số tiền 300.000 đồng và 03 điện thoại di động (02 Nokia, 01 Samsung).
Quá trình điều tra, xác định TTLG là người nghiện ma túy, để có ma túy sử dụng và bán lại kiếm lời, từ tháng 7/2017, G đã nhiều lần mua ma túy của CNT, sinh năm 1975; ngụ ấp Hiệp An, xã HT, huyện HT, tỉnh TN và mua của người đàn ông tên Quý không rõ họ, tên, địa chỉ về chia thành nhiều bịch nhỏ để sử dụng và bán lại cho nhưng người nghiện. Cụ thể như sau:
- Bán cho LTBT (tự My), sinh năm 2000, ngụ ấp HH, xã HT, huyện HT, tỉnh TN hai lần 02 bịch chất ma túy giá 300.000 đồng (01 bịch 200.000 đồng và 01 bịch 100.000 đồng). Số tiền này, G quy đổi thành 3.000 điểm để tham gia trò chơi bắn cá do Thi làm chủ.
- Trong lúc đến nhà BT chơi game bắn cá, tại đây G bán cho NMT, sinh năm 1980, ngụ ấp HA, xã HT, huyện HT, tỉnh TN ba lần 03 bịch ma túy giá 700.000 đồng (02 bịch giá 200.000 đồng/01 bịch và 01 bịch giá 300.000 đồng).
- Vào đầu tháng 9/2017, tại khu vực ấp Hiệp Hòa, xã HT, huyện HT, tỉnh TN, G bán 01 bịch chất ma túy cho NQĐ giá 200.000 đồng. Đến ngày 13/9/2017, tiếp tục bán ma túy cho D và An thì bị bắt quả tang.
Tại kết luận giám định số 179/MT-2017 ngày 20/9/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TN kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc (Ký hiệu M) gửi đến giám định là chất ma túy ; Là loại Methamphetamin; trọng lượng 0,0662 gam.
Bản cáo trạng số 62/QĐ-KSĐT ngày 22 tháng 11 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện HT, tỉnh TN truy tố bị cáo TTLG về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điểm b Khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HT trong phần tranh luận đã giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo TTLG về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điểm b Khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm b Khoản 2 Điều 194; Điểm l, o, p Khoản 1 Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo TTLG mức án từ 06 năm tù đến 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo do không có khả năng thi hành. Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo G: Bị cáo không nói lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh TN, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện HT, tỉnh TN, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do dó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo thể hiện: Vào lúc 15 giờ 30 phút ngày 13/9/2017 Công an tỉnh TN bắt quả tang TTLG đang bán trái phép 01 gói chất ma túy cho NQĐ và LVAvới giá 300.000 đồng. Ngoài ra bị cáo còn khai nhận bán cho LTBT (tự My) hai lần 02 bịch chất ma túy giá 300.000 đồng, bán cho NMT ba lần 03 bịch ma túy giá 700.000 đồng và bán cho NQĐ 01 bịch chất ma túy giá 200.000 đồng.
Xét lời khai của bị cáo, của những người làm chứng trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; Do đó, có đủ căn cứ kết luận bị cáo TTLG phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện HT, tỉnh TN truy tố bị cáo G với tình tiết phạm tội nhiều lần theo Điểm b Khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình chính trị tại địa phương. Bị cáo vẫn biết việc làm của mình là vi phạm pháp luật, nhưng muốn có tiền tiêu xài và ma túy sử dụng nên đã thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo biết việc sử dụng chất ma túy sẽ ảnh hưởng đến nòi giống, lây nhiễm HIV và là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
- Tình tiết tăng nặng: Không có
- Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội khi đang mang thai; bị cáo khai ra các lần phạm tội khác đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm l, o, p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự để xử lý bị cáo.
Đối với LTBT, NMT, NQĐ, LVA có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh TN ra quyết định xử phạt hành chính là đúng quy định pháp luật.
Đối với CNT có hành vi bán trái phép chất ma túy cho G, Cơ quan Công an tỉnh TN đã khởi tố Trường về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” trong một vụ án khác.
Riêng người tên Quý bán chất ma túy cho bị cáo G, hiện chưa xác định được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số 179, bên ngoài có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh TN bên trong có chứa chất ma túy có trọng lượng 0,0662 gam là vật chứng của vụ án thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
- Tiền Việt Nam: 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) gồm: 01 (một) tờ mệnh giá 200.000 đồng, có ghi số LW 10566956 và 01 (một) tờ mệnh giá 100.000 đồng, có ghi số: TJ 08045449 là tiền thu lợi bất chính cần tịch thu sung quỹ Nhà nước
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung, màu trắng đã qua sử dụng (số Imei: 354467/07/031176/9); 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen đã qua sử dụng (số Imei: 356713/05/567600/9) không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo G nên trả lại cho bị cáo.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh xám, không có nắp pin, đã qua sử dụng (số Imei: 358015/03/695850/8) là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Bị cáo không có tài sản, không có nghề nghiệp nên miễn hình phạt bổ sung.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo TTLG phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
Áp dụng Điểm b Khoản 2 Điều 194; Điểm l, o, p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt: Bị cáo TTLG 06 (sáu) năm tù, Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. Khấu trừ ngày tạm giữ từ ngày 14/9/2017 đến ngày 23/9/2017 .
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số 179, bên ngoài có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh TN bên trong có chứa chất ma túy có trọng lượng 0,0662 gam , sau giám định là 0,0394gam.
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: Tiền Việt Nam 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) gồm: 01 (một) tờ mệnh giá 200.000 đồng, có ghi số LW 10566956 và 01 (một) tờ mệnh giá 100.000 đồng, có ghi số: TJ 08045449, 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh xám, không có nắp pin, đã qua sử dụng (số Imei: 358015/03/695850/8).
- Trả cho bị cáo G: 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung, màu trắng đã qua sử dụng (số Imei: 354467/07/031176/9); 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen đã qua sử dụng (số Imei: 356713/05/567600/9).
3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Ánh hình sự sơ thẩm xử công khai báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: -TAND tỉnh TN. -VKSND tỉnh TN. -Công an tỉnh TN -VKSND huyện HT. -Công an huyện HT. -Cơ quan THA ds huyện HT -Sở tư pháp TN -Bị cáo. -Lưu hồ sơ vụ án. -Lưu tập án. | Dương Thúy Hằng |