vanban.org

Bản án 66/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 23/11/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội Trộm cắp tài sản.

Vật chứng: áp dụng Điều 41 BLHS, Điều 76 BLTTHS Hoàn trả anh Bế Văn V 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda wave, sơn màu trắng, biển kiểm soát 20F1 – 35006, xe đã qua sử dụng. Hiện chiếc xe đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẠI TỪ
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2017/HSST
Ngày: 23/11/2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Hồng Mây

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Mười

Ông Chu Hồng Thái

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Loan - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Lã Thị Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 23/11/2017 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đại Từ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 59/HSST ngày 20/10/2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2017/HSST-QĐ ngày 08/11/2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị L, sinh ngày 15/7/1977.

Nơi cư trú: xóm L, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Giới tính: Nữ;

Trình độ văn hoá: 06/12;Nghề nghiệp: làm ruộng; Tiền sự: không

Tiền án:

Bản án số 12/HSST ngày 04/3/2013 Tòa án nhân dân huyện Đ xử phạt Nguyễn Thị L 09 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Chấp hành xong bản án ngày 07/02/2015.

Bản án số 34/ HSST ngày 26/4/2016 Tòa án nhân dân huyện Đ xử phạt Nguyễn Thị L 12 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/6/2017.

Con ông: Nguyễn Văn T, sinh năm 1952.

Con bà: Đào Thị V, sinh năm 1950.

Gia đình bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; có chồng là Bế Văn V, sinh năm 1975; vợ chồng có hai con chung, con lớn là Bế Thị L sinh năm 2000, nhỏ là Bế Thị Ngọc B sinh năm 2011.

Hiện bị cáo đang tạm giam từ ngày 27/7/2017 cho đến nay.

(có mặt tại phiên tòa)

- Người bị hại:

Chị Hầu Thị Y, sinh năm 1994 – có mặt

Trú tại: Xóm L, xã P, huyện Đ, tỉnh T

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Cháu Bế Thị L - sinh năm 2000 - có mặt

Trú tại: Xóm L, xã M, huyện Đ, tỉnh T

- Người đại diện hợp pháp cho cháu L:

Anh Bế Văn Vọng - sinh năm 1975 - có mặt

Trú tại: Xóm L, xã M, huyện Đ, tỉnh T

- Người bào chữa cho bị cáo:

Bà Lê Thúy H - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T - có mặt

NHẬN THẤY

Bị cáo Nguyễn Thị L bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh T truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 6 giờ ngày 27/7/2017, Nguyễn Thị L một mình đi xe mô tô nhãn hiệu Honda wave, sơn màu trắng, biển kiểm soát 20F1 - 35006 từ nhà đến xã P, huyện Đ với mục đích tìm việc làm thêm. Khi L đến khu vực xóm L, xã P, huyện Đ thì L phát hiện nhà chị Hầu Thị Y khóa cửa, không có ai ở nhà. L dựng xe mô tô ở lề đường đối diện rồi đi vào trong sân nhà chị Y, quan sát thấy chuồng gà có 02 con gà mái lông màu vàng đang nằm ấp trứng. L nhặt 01 bao tải dứa màu cam có sẵn ở sân rồi dùng tay bắt 02 con gà mái cho vào bao tải đi ra chỗ để xe mô tô thì bị quần chúng nhân dân phát hiện bắt giữ L đưa đến Công an xã P.

Công an xã P đã lập biên bản sự việc, thu giữ vật chứng và chuyển toàn

bộ hồ sơ vụ án đến cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ giải quyết theo thẩm quyền.

Tại kết luận định giá tài sản số 31/ KL-HĐĐG ngày 27/7/2017 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự kết luận: 02 con gà mái, loại gà ta, màu lông vàng, tổng trọng lượng 02 con gà là 4,3 kg có giá trị là 430.000đồng (Bốn trăm ba mươi nghìn đồng).

Vật chứng của vụ án gồm 02 con gà mái, 01 bao tải dứa màu cam đã trả cho chị Hầu Thị Y sử dụng, chị Y không yêu cầu gì về trách nhiệm bồi thường dân sự đối với bị cáo; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda wave, sơn màu trắng, biển kiểm soát 20F1- 35006, quá trình điều tra xác định của Bế Thị L (con gái L). Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đchờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 61/KSĐT-KT ngày 19/10/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tỉnh T đã truy tố Nguyễn Thị L về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 BLHS.

Tại cơ quan điều tra và trước phiên toà hôm nay bị cáo khai nhận hành vi vi phạm pháp luật như bản cáo trạng đã nêu trên.

Anh Bế Văn V khai khi mua chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda wave, sơn màu trắng, biển kiểm soát 20F1 - 35006 là tiền của cháu L, khi cháu đi mua xe anh V bán chiếc xe moto cũ của anh được 1.800.000đ đưa cho cháu L số tiền còn lại là của L tích cóp được. Mua xe với hình thức trả góp nên tiền trả hàng tháng là do cháu L trả, hiện còn nợ ngân hàng thông qua cửa hàng khoảng hơn 9.000.000đ. Do cháu L chưa đủ tuổi nên nhờ mẹ cháu đứng tên trong đăng ký xe. Nay anh có đề nghị Tòa án trả lại chiếc xe cho gia đình anh do hoàn cảnh gia đình hết sức khó khăn, nằm trong diện hộ nghèo của xã; chị L hiện đang tạm giam, bản thân anh không còn sức lao động chỉ ở nhà trông nhà, cháu L là lao động chính trong gia đình, chiếc xe là phương tiện duy nhất để cháu L đi lại kiếm sống và trả khoản nợ mua xe cho ngân hàng.

Cháu L khai: do nhà chỉ có mấy sào ruộng trồng lúa, không có chè nên cháu học xong lớp 9 nghỉ học ở nhà đi bán hàng thuê thu nhập khoảng 3.000.000đ/ tháng; mẹ cháu sau khi đi tù về hàng ngày đi hái chè thuê hoặc ai có việc gì thuê thì làm, hôm nào cháu không đi làm thì mẹ cháu lấy xe đi. Khi mua xe giá 19.100.000đ, trả ngay được khoảng 4.300.000đ còn lại trả góp chủ yếu bằng tiền lương tháng của cháu, hiện còn nợ 9.430.000đ. Khi mua bố bán xe cũ được 1.800.000đ góp vào mua xe. Nay cháu đề nghị Tòa án trả lại xe cho cháu để cháu đi làm lấy tiền trả nốt chỗ nợ còn lại.

Bị cáo nhất trí với lời khai của anh V và cháu L về nguồn tiền mua xe, bị cáo mới ra trại nên thỉnh thoảng mượn xe cháu L đi tìm việc làm thuê, sáng ngày 27/7 bị cáo đi hái chè thuê chứ không có mục đích trộm cắp tài sản.

Kết thúc xét hỏi, vị đại diện Viện kiểm sát huyện Đ trình bày luận tội đã giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:

Bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội Trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g, p khoản 1 Điều 46 BLHS xử phạt Nguyễn Thị L mức án từ 9 đến 12 tháng tù.

Áp dụng Điều 41BLHS, Điều 76 BLTTHS: hoàn trả chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda wave biển kiểm soát 20F1 35006 cho anh Bế Văn V.

Áp dụng Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.

Bị cáo không tranh luận thừa nhận việc truy tố và xét xử là không oan, đúng người, đúng tội và xin giảm nhẹ mức án.

Người bào chữa nhất trí với tội danh và khung hình phạt bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 46 BLHS bởi bố đẻ bị cáo là ông Nguyễn Văn T được nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất; người bào chữa cũng đề nghị hoàn trả chiếc xe mô tô cho gia đình bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

XÉT THẤY

Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại và tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra vụ án về thời gian, địa điểm và loại tài sản chiếm đoạt và vật chứng thu giữ được. Như vậy đủ cơ sở xác định, khoảng 06 giờ 30 phút ngày 27/7/2017 tại xóm L, xã P, huyện Đ, tỉnh T, lợi dụng sơ hở của gia đình người bị hại Nguyễn Thị L đã lén lút bắt trộm 02 con gà mái cân nặng 4,3 kg giá trị 430.000 đồng của gia đình chị Hầu Thị Y và bị bắt quả tang thu giữ ngay vật chứng.

Tuy tài sản bị cáo trộm cắp dưới 2.000.000đ nhưng nhân thân bị cáo có 02 tiền án cùng loại tội chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 138 BLHS.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản viện dẫn nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Nội dung điều luật nhƣ sau:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạt, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm, phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an ở địa phương.

Nhân thân bị cáo đã nhiều lần bị xét xử cùng về hành vi trộm cắp tài sản nhưng không lấy đó làm bài học để tự tu dưỡng rèn luyện bản thân thành công dân tốt mà tiếp phạm cùng cùng loại tội. Xét cần có mức án nghiêm khắc buộc bị caó cách ly xã hội để tiếp tục giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Khi lượng hình bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là khai báo thành khẩn, phạm tội mà gây thiệt hại không lớn quy định tại điểm g, p khoản 1 Điều 46 BLHS; bố bị cáo được nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiế hạng Nhất nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 46 BLHS. Hai tiền án đã sử dụng làm tình tiết định tội danh đối với bị cáo nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm. Mức án vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã đựơc thu hồi trả cho bị hại quản lý sử dụng và không có yêu cầu gì không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.

Liên quan đến vụ án, cơ quan điều tra thu giữ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda wave, sơn màu trắng, biển kiểm soát 20F1 - 35006. Hội đồng xét xử thấy giấy đăng ký xe mang tên bị cáo nhưng tại phiên tòa đã làm rõ đây là tài sản chung của các thành viên trong gia đình, hoàn cảnh gia đình bị cáo hết sức khó khăn là hộ nghèo, hiện số tiền mua xe chưa trả hết nên có cơ sở chấp nhận lời đề nghị của gia đình bị cáo, người bào chữa và vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa trả lại xe cho anh V quản lý sử dụng.

Về án phí: Bị cáo là hộ nghèo của xã nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội Trộm cắp tài sản.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 BLHS xử phạt Nguyễn Thị L 01 (một) năm tï. Thêi h¹n tï tÝnh tõ ngµy 27/7/2017.

Căn cứ Điều 228 BLTTHS, quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Vật chứng: áp dụng Điều 41 BLHS, Điều 76 BLTTHS

Hoàn trả anh Bế Văn V 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda wave, sơn màu trắng, biển kiểm soát 20F1 – 35006, xe đã qua sử dụng. Hiện chiếc xe đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ.

3. Về án phí: Căn cứ vào điều 99 BLTTHS; Điều 12 Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 miễn nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ