- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự n…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm như sau:
- Căn cứ chính? Điều 1 Nghị quyết số 144/2016/QH13 Về lùi hiệu lực thi hành của Bộ…; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TAND TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2017/HSPT Ngày: 14/8/2017 “Về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƢƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán, chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Đình Hân.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Mạnh Cƣờng
Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Hoàng Văn Vụ, Thƣ ký TAND tỉnh.
Đại diện VKSND tỉnh Hải Dương: Bà Phạm Thị Yến, KSV.
Ngày 14 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở TAND tỉnh Hải Dƣơng, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 96/2017/HSPT ngày 25/7/2017 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2017/HSST ngày 16/6/2017 của TAND thị xã Chí Linh, do bị cáo có kháng cáo sau đây:
Nguyễn Văn H, sinh năm 1982.
Nơi cƣ trú: Thôn T, xã B, thị xã Đ, Quảng Ninh.
Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không.
Trình độ văn hóa: Lớp 11/12 - Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Con ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị S.
Vợ là Nguyễn Thị U, sinh năm 1989, chƣa có con.
Nhân thân: bị cáo có 03 tiền án chƣa đƣợc xóa án tích:
- Ngày 31/03/2001, bị Tòa án huyện Nam Sách xử phạt 15 tháng tù về hai tội “Cưỡng đoạt tài sản” và “Trốn khỏi nơi giữ” (Chấp hành xong hình phạt ngày 29/10/2002).
- Ngày 23/11/2004, bị Tòa án thị xã Chí Linh xử phạt 09 năm tù về tội “Cướp tài sản” (Chấp hành xong hình phạt ngày 22/03/2013).
- Ngày 31/03/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Chấp hành xong hình phạt ngày 06/11/2016). Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 21/03/2017, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát và bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thị xã Chí Linh, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Với mục đích sử dụng, khoảng 5h sáng ngày 21/03/2017, Nguyễn Văn H đi ô tô từ nhà đến khu vực chợ C, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hƣng Yên, gặp và mua của ngƣời đàn ông tên T (không rõ tuổi, địa chỉ) 05 túi ma túy đựng trong chiếc túi da màu nâu, với giá 8.400.000đ. Khoảng 11h cùng ngày, khi H về đến khách sạn A ở khu dân cƣ L, phƣờng H, thị xã C, tỉnh Hải Dƣơng để thuê phòng nghỉ thì bị Công an phạt hiện bắt quả tang, thu giữ của H một túi da màu nâu, bên trong có 05 túi nilon có chứa tinh thể dạng cục màu trắng, H khai đó là ma túy đá.
Tại Bản kết luận giám định số 1422/C54 (TT2) ngày 12/04/2017, Viện khoa học hình sự, Bộ Công an kết luận: Chất bột tinh thể dạng cục màu trắng trong 05 túi nilon gửi giám định có tổng trọng lƣợng 19,429gam, đều có Methaphetamine, hàm lƣợng trung bình là 57,9%.
Quá trình điều tra Nguyễn Văn H đã khai nhận hành vi mua và cất giấu 05 túi nilon trong có chứa tinh thể dạng cục màu trắng và bị bắt giữ cùng tang vật nhƣ nêu trên.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2017/HSST ngày 16/6/2017, Tòa án nhân dân thị xã Chí Linh đã áp dụng điểm p khoản 2 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 41 BLHS năm 1999; khoản 3 Điều 7, khoản 2 Điều 249 BLHS năm 2015; điểm a khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội; điểm a,đ khoản 2 Điều 76, Điều 99 BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 8 năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 01/7/2017, Nguyễn Văn H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận: Khoảng 11h ngày 21/03/2017, khi bị cáo từ thị trấn N, huyện V, tỉnh Hƣng Yên về đến khách sạn A ở khu L, phƣờng H, thị xã C, tỉnh Hải Dƣơng để thuê phòng nghỉ thì bị Công an phát hiện bắt quả tang và thu giữ một túi da màu nâu, trong có 05 túi nilon chƣa tinh thể màu trắng (ma túy đá). Bị cáo H xác định đã bị Tòa án nhân dân thị xã Chí Linh quy kết về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dƣơng tham gia phiên tòa xác định: Hành vi cất giấu 05 túi nilon có chƣa 19,429gam Methaphetamine để sử dụng của Nguyễn Văn H đã bị bắt giữ vào trƣa ngày 21/03/2017, tại khách sạn A, khu L, phƣờng H, thị xã C, tỉnh Hải Dƣơng và bị Tòa án nhân dân thị xã Chí Linh quy kết về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm p khoản 2 Điều 194 BLHS, là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội. Xét nhân thân bị cáo có 03 tiền án chƣa đƣợc xóa, lƣợng ma túy tàng trữ gần 20gam, nên Tòa án nhân dân thị xã Chí Linh đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999; khoản 3 Điều 7, khoản 2 Điều 249 BLHS năm 2015 và Nghị quyết số 144/2016/QH 13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội, xử phạt Nguyễn Văn H 8 năm 6 tháng tù là phù hợp, tƣơng xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ mới, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, đề nghị y án sơ thẩm.
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, lời trình bày của bị cáo tại phiên tòa.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH
1. Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử, các cơ quan tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng.
2. Về nội dung:
- Lời khai nhận tội của Nguyễn Văn H tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ nhƣ: Biên bản phạm pháp quả tang, tang vật chứng đã thu giữ, lời khai ngƣời làm chứng và lời khai của chính bị cáo trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm. Có đủ cơ sở xác định, Khoảng 11h ngày 21/03/2017, tại khách sạn A thuộc khu dận cƣ L, phƣờng H, thị xã C, Nguyễn Văn H có 03 tiền án chƣa đƣợc xóa án tích đã có hành vi cất giấu trong chiếc túi da màu nâu 05 túi nilon trong có chứa 19,429gam Methaphetamine để sử dụng và bị Công an phƣờng Cộng Hòa, thị xã Chí Linh phát hiện, bắt giữ cùng tang vật. Hành vi trên của Nguyễn Văn H đã phạm vào điểm p khoản 2 Điều 194 BLHS, nên bị Tòa án nhân dân thị xã Chí Linh quy kết về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là hoàn toàn có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội.
- Xét yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của Nguyễn Văn H, thấy rằng: Bị cáo bị truy tố và xét xử theo điểm p khoản 2 Điều 194 BLHS năm 1999, có mức hình phạt từ 7 năm đến 15 năm tù, bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ tại điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Theo quy định tại khoản 2 Điều 249 BLHS năm 2015, có mức hình phạt từ 05 năm đến 10 năm tù, nhẹ hơn so với khoản 2 Điều 194 BLHS năm 1999, đây là tình tiết có lợi cho bị cáo, nên Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng điểm a khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7 và khoản 2 Điều 249 BLHS năm 2015 đối với bị cáo H là phù hợp quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H mức án 8 năm 6 tháng tù là nghiêm khắc. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giảm cho bị cáo xuống mức án khởi điểm của khung hình phạt là phù hợp.
Bị cáo Nguyễn Văn H kháng cáo đƣợc chấp nhận, nên không phải chịu án phí phúc thẩm hình sự.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, cấp phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 248; điểm c khoản 1 Điều 249 BLTTHS.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm như sau:
- Tuyên bố: Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999; khoản 3 Điều 7, khoản 2 Điều 249 BLHS năm 2015; điểm a khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội.
- Xử phạt Nguyễn Văn H 07 (bẩy) năm tù, thời hạn tính từ ngày bắt 21/03/2017.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án (14/8/2017)./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dƣơng; - Phòng HSNV Công an tỉnh Hải Dƣơng; - Sở Tƣ pháp tỉnh Hải Dƣơng; - TAND thị xã Chí Linh, Hải Dƣơng; - VKSND thị xã Chí Linh, Hải Dƣơng; - CA thị xã Chí Linh, Hải Dƣơng; - Chi cục THADS thị xã Chí Linh, Hải Dƣơng; - Bị cáo, lƣu hồ sơ, lƣu Tòa án tỉnh. | T/M Hội đồng xét xử Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Đào Đình Hân |