vanban.org

Bản án 658/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 18/06/2019 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Kim Đ - Ton Nhut Bao T"
  • Căn cứ chính? Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 121 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 658/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 18-6-2019
V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Cao

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Nở

2. Bà Nguyễn Thị Thanh Mai

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Thùy – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Cao Hoàng Thắng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 204/2018/TLST-HNGĐ, ngày 16 tháng 5 năm 2018 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2094/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 3940/2019/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim Đ, sinh năm 1983 (vắng mặt)

Địa chỉ: F8/40 Ấp 6, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Ông Ton Nhut Bao T, sinh năm 1974 (vắng mặt)

Quốc tịch: Hoa Kỳ.

Địa chỉ: Alhambra, CA 91801, Hoa Kỳ.

Bà Nguyễn Thị Kim Đ đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Trong đơn khởi kiện ngày 27/4/2018 và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Kim Đ trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Ton Nhut Bao T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 37 ngày 09/9/2016. Sau khi kết hôn, ông Ton Nhut Bao T quay về Hoa Kỳ sinh sống và làm việc, còn bà vẫn ở lại Việt Nam. Do cách biệt về địa lý nên hai bên không có điều kiện quan tâm, chăm sóc cho nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng dần phai nhạt. Bà xác nhận hôn nhân không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Ton Nhut Bao T.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có. Vì bận việc, bà đề nghị được vắng mặt cho đến khi kết thúc vụ án.

Bị đơn là ông Ton Nhut Bao T, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành ủy thác tư pháp để tống đạt các văn bản tố tụng, thông báo về việc thụ lý vụ án, về thời gian mở phiên họp hoà giải cũng như phiên tòa xét xử vụ án cho ông Ton Nhut Bao T theo địa chỉ của bị đơn do nguyên đơn cung cấp. Tuy nhiên Cơ quan có thẩm quyền của Hoa Kỳ đã không thực hiện được ủy thác tư pháp nêu trên với lý do đương sự không còn ở tại địa chỉ được yêu cầu. Ngày 22/02/2019, Tòa án có Công văn số 575/TAND-CV đề nghị Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại San Francisco, Hoa Kỳ thực hiện thông báo trên cổng thông tin điện tử của Tổng Lãnh sự quán để thông báo ngày, giờ, địa điểm mở phiên họp hòa giải, phiên tòa cho ông Ton Nhut Bao T. Đồng thời, Tòa án cũng có văn bản đề nghị thông báo việc ly hôn của bà Đ và ông Ton Nhut Bao T trên kênh dành cho người nước ngoài của Đài phát thanh Trung ương theo quy định. Cơ quan thường trú Đài tiếng nói Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh đã đăng thông báo trong các ngày 01, 02, 03/3/2019. Hết thời hạn 01 tháng kể từ ngày thông báo, ông Ton Nhut Bao T vẫn không liên hệ với Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh để giải quyết vụ án ly hôn theo đơn khởi kiện của bà Đ. Căn cứ điểm c khoản 6 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về vụ án: Về tố tụng, trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo trình tự tố tụng của Bộ luật tố tụng dân sự quy định về địa vị tố tụng và đảm bảo quyền lợi cho các đương sự. Về nội dung, Kiểm sát viên phân tích yêu cầu của nguyên đơn xin ly hôn bị đơn là phù hợp và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Xét yêu cầu của nguyên đơn Nguyễn Thị Kim Đ, Hội đồng xét xử nhận thấy bà Đ và ông Ton Nhut Bao T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn. Vì vậy căn cứ vào Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đây là hôn nhân hợp pháp, khi một trong các bên có yêu cầu ly hôn, Tòa án xem xét, giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.

Bị đơn là ông Ton Nhut Bao T hiện đang cư trú tại Hoa Kỳ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35 và khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về việc xét xử vắng mặt đương sự trong vụ án:

Nguyên đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt không tham gia phiên tòa. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[3] Xét yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim Đ yêu cầu ly hôn ông Ton Nhut Bao T, Hội đồng xét xử xét thấy: Qua lời trình bày của bà Đ (bà Đ cam kết chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời khai của bà) thì thực tế sau khi kết hôn bà Đ và ông Ton Nhut Bao T chỉ chung sống hạnh phúc trong một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Từ khi kết hôn cho đến nay, bà Đ và ông Ton Nhut Bao T không có quá trình chung sống lâu dài, do khoảng cách địa lý nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, hai bên chưa có sự gắn kết sâu đậm về tình cảm vợ chồng. Hiện nay bà Đ và ông Ton Nhut Bao T đang sinh sống ở hai nước khác nhau nên khả năng đoàn tụ không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy bà Đ yêu cầu ly hôn với ông Ton Nhut Bao T là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho bà Đ được ly hôn với ông Ton Nhut Bao T là phù hợp với thực tế nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về con chung, tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung: Bà Nguyễn Thị Kim Đ khai không có, Tòa án không xem xét.

[5] Về án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng, bà Đ chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH:!

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 227, Điều 228, khoản 5 Điều 477, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 121 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Xử:!

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim Đ.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim Đ được ly hôn với ông Ton Nhut Bao T.

Giấy chứng nhận kết hôn số 37 do Ủy ban nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 09/9/2016 cho bà Nguyễn Thị Kim Đ và ông Ton Nhut Bao T không còn giá trị pháp lý.

1.2. Về con chung, tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung: Bà Nguyễn Thị Kim Đ khai không có, Tòa không xét.

2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng, bà Nguyễn Thị Kim Đ chịu và được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng mà bà Đ đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2017/0044513 ngày 10/5/2018 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Đ đã nộp đủ tiền án phí.

3. Bà Nguyễn Thị Kim Đ được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án. Ông Ton Nhut Bao T được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ